|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 64/2021/HNGĐ-ST Ngày: 14/06/2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Lê Thị Ký
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng và Ông Tạ Văn Đài
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 182/2021/TLST- HNGĐ ngày 24/03/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21/5/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đinh Thị M, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Ông Vòng Mềnh H, sinh năm 1988.
Địa chỉ: 25/2, khu 5, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(bà M và ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Đinh Thị M trình bày: Bà và ông Vòng Mềnh H kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng ly thân đã lâu và không còn quan tâm đến nhau. Ông Vòng Mềnh H đi hợp tác lao động tại Đài Loan nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể. Trước khi đi lao động tại Đài Loan, ông H cư trú cùng mẹ ruột là bà Phù Cóng K tại địa chỉ: 25/2, khu 5, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn ông Vòng Mềnh H.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Vòng Quảng C, sinh ngày 07/7/2011. Ly hôn, bà xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu C. Về cấp dưỡng: Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Vòng Mềnh H vắng mặt suốt quá trình tố tụng và không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Tòa án thu thập chứng cứ đầy đủ, Hội đồng xét xử đúng quy định bảo đảm quyền và nghĩa vụ của đương sự. Căn cứ hướng dẫn tại 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện và yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đinh Thị M. Về con chung: Cháu C hiện đang sống ổn định với bà M và có nguyện vọng ở với mẹ nên giao cháu C cho bà M chăm sóc là phù hợp. Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu giải quyết. Bà M phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Đinh Thị M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án đã nhiều lần tống đạt triệu tập hợp lệ cho ông H nhưng ông H không có ý kiến. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà M, ông H.
[3] Về thẩm quyền: Ông H trước khi đi Đài Loan cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ công Văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông H kết hôn năm 2010, hôn nhân hợp pháp. Nay bà M xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để giải quyết.
[5] Về nội dung: Cuộc sống hôn nhân của bà M, ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của bà M là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về con chung: Giao cháu Vòng Quảng C, sinh ngày 07/7/2011 cho bà M trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp. Bà M không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[7] Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.
[8] Về án phí: Bà Đinh Thị M phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đinh Thị M đối với ông Vòng Mềnh H.
- + Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị M được ly hôn ông Vòng Mềnh H.
- + Về con chung: Giao cháu Vòng Quảng C, sinh ngày 07/7/2011 cho bà Đinh Thị M chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời bà M chưa yêu cầu ông Vòng Mềnh H cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.
- + Về án phí: Bà Đinh Thị M phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005896 ngày 14/10/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
Bà M, ông H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ký |
Bản án số 64/2021/HNGĐ-ST ngày 14/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 64/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
