|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 64/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 7 - 2021 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần TVũ;
- Ông Huỳnh TVũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị THuyền – Thư ký Tòa án nhân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị TPhượng – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2021/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2021; Thông báo đưa vụ án ra xét xử số 152/2021/TBXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn Đ, huyện Đ, TP. Cần Thơ. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị đơn: Anh Phạm Hữu T, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Ấp T, thị trấn Đ, huyện Đ, TP. Cần Thơ. (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Trần Thị Đ trình bày: Qua thời gian tìm hiểu, chị Trần Thị Đ và anh Phạm Hữu T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Cờ Đỏ, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ vào ngày 09/8/2017. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính Phạm Hữu T không hợp nhau, anh Phạm Hữu T không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, hiện nay anh Phạm Hữu T đang có tình cảm với người phụ nữ khác. Do thấy hôn nhân không hạnh phúc, nên chị Đ xin ly hôn với anh Phạm Hữu T.
Về con chung: Chị Đ và anh Phạm Hữu T có 01 con chung là Phạm Như T(nữ) sinh ngày 30/11/2016. Chị Đ đồng ý giao con chung cho anh Phạm Hữu T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Phạm Hữu T vẫn vắng mặt không lý do, nên phiên hoà giải không thể tiến hành được. Do đó, Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Hữu T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ trình bày ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng qui định về việc phải có mặt khi Tòa án triệu tập. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” là phù hợp; bị đơn có nơi cư trú tại huyện Cờ Đỏ nên Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dụng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Đ, chị Đ được ly hôn với anh Phạm Hữu T; Về con chung: Giao con chung là Phạm Như T(nữ) sinh ngày 30/11/2016 cho anh Phạm Hữu T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Do anh Phạm Hữu T vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến của anh Phạm Hữu T về vấn đề cấp dưỡng, vấn đề tài sản chung và nợ chung, nên tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp hoặc có yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị Đ và anh Phạm Hữu T, tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị Đ có đơn xin ly hôn với anh Phạm Hữu T, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Tranh chấp này, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Cờ Đỏ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo qui định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Phạm Hữu T, nhưng anh Phạm Hữu T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Hữu T theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh Phạm Hữu T tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Đ cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính Phạm Hữu T không hợp nhau, anh Phạm Hữu T không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, hiện nay anh Phạm Hữu T đang có tình cảm với người phụ nữ khác. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Toà án triệu tập nhiều lần, nhưng anh Phạm Hữu T đều vắng mặt, cũng như không có văn bản gửi đến Toà án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị Đ. Qua đó, chứng tỏ anh Phạm Hữu T không có thiện chí hàn gắn, chị Đ vẫn kiên quyết xin ly hôn với anh Phạm Hữu T. Điều đó, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh Phạm Hữu T đã thật sự sâu sắc trầm trọng, mục đích của hôn nhân là hạnh phúc không đạt được. Nên yêu cầu xin ly hôn của chị Đ là có cơ sở chấp nhận.
[4]. Về con chung: Theo kết quả xác minh cháu Phạm Như T(nữ) sinh ngày 30/11/2016 hiện do anh Phạm Hữu T nuôi dưỡng, chị Đ có ý kiến đồng ý giao cháu T cho anh Phạm Hữu T nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Do đó, giao cháu T cho anh Phạm Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp. Anh Phạm Hữu T vắng mặt nên không ghi nhân được ý kiến gì về vấn đề cấp dưỡng cho con chung, nên vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Đ không ai được quyền ngăn cản.
[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Do anh Phạm Hữu T vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến của anh về vấn đề tài sản chung và nợ chung, nên tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp hoặc có yêu cầu giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 227, 228; 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin hôn của chị Trần Thị Đ đối với anh Phạm Hữu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Đ được ly hôn với anh Phạm Hữu T.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Như T(nữ) sinh ngày 30/11/2016 cho anh Phạm Hữu T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Đ, không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung và nợ chung: Tách thành vụ án khác để giải quyết, nếu sau này các đương sự có phát sinh tranh chấp hoặc có yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị Đ chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Đ đã nộp theo biên lai số 0009015 ngày 06/4/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ thành tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Phạm Hữu T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THA DS huyện Cờ Đỏ; - Q/ UBND thị trấn Cờ Đỏ; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quốc Kiệt |
Bản án số 64/2021/HNGĐ-ST ngày 05/07/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 64/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
