Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 64 /2020/HNGĐ-ST

Ngày: 22 - 9 - 2020

V/v: Ly hôn giữa anh H và chị H1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan

Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ghi biên bản phiên tòa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy: Bà Phạm Thị Thanh Hải – kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2020/TLST – HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020 về việc Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2020/QĐST- HNGĐ ngày 10/8/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2020

  1. Nguyên đơn: Anh Lê Mạnh H, sinh năm 1977 – Có mặt
    Địa chỉ: thôn T, xã TL, huyện TT, tỉnh Thái Bình.
  2. Bị đơn: Chị Cao Thị H1, sinh năm 1980 – Đề nghị xét xử vắng mặt
    Địa chỉ: thôn T, xã TL, huyện TT, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại biên bản hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là anh Lê Mạnh H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Cao Thị H1 tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện TT vào ngày 10 tháng 8 năm 2001. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường nhưng do chị H1 cư xử không đúng mực với gia đình, bất hòa giữa hai bên về vấn đề kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Từ tháng 10/2019 anh và chị H1 ly thân, anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H1 không còn nên nay anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị H1.

Về việc nuôi dưỡng con chung: Anh và chị H1 có ba con chung là Lê Thị Hà M, sinh ngày 05/7/2003; Lê Thị Vân Tr, sinh ngày 05/5/2008 và Lê Thị Gia H2, sinh ngày 25/7/2017. Sau khi anh và chị H1 ly thân các con đều ở với chị H1. Từ sau chị H1 đi chấp hành án (ngày 31/7/2020), anh và gia đình đã đón các con về nhà, động viên, chăm sóc, nuôi dưỡng các con, ổn định cuộc sống cho các con. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung, anh có đủ điều kiện nuôi dưỡng các con nên anh không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng.

Về chia tài sản sản chung, nợ chung: Anh và chị H1 có tài sản chung là nhà 02 tầng và công trình phụ xây trên đất của bố mẹ anh, ngoài ra còn có các tài sản sinh hoạt khác như bàn ghế, tủ quần áo, máy lạnh, máy giặt, xe máy, laptop, máy in .... Anh còn có một số khoản vay nợ vay của chị gái anh là chị Lê Thị Ng 13.000.000 đồng, nợ vật liệu xây dựng anh Tuấn H 5.600.000 đồng, nợ mẹ anh là bà Nguyễn Thị R 02 chỉ vàng 9999 nhưng để anh và chị H1 tự giải quyết, anh không yêu cầu phân chia tài sản chung, nợ chung.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các đơn gửi Tòa án, bị đơn là chị Cao Thị H trình bày:

Chị và anh H kết hôn với nhau vào ngày 10 tháng 8 năm 2001, nhưng cuộc sống chung không có hạnh phúc, nguyên nhân do anh H sống không có trách nhiệm, thường xuyên đánh đập chị và các con nên chị cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh H để giải thoát cho chị. Chị và anh H có ba con chung là Lê Thị Hà M, sinh ngày 05/7/2003; Lê Thị Vân Tr, sinh ngày 05/5/2008 và Lê Thị Gia H2, sinh ngày 24/7/2017. Do các con đều là nữ, nguyện vọng của các con đều muốn ở với chị nên chị có đề nghị được giao trách nhiệm nuôi con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Tại đơn đề ngày 30/7/2020, chị xác định tại thời điểm này chị đã hết hạn được hoãn thi hành án phạt tù, ngày 31/7/2020 chị phải đi chấp hành án theo bản án số 58/2019/HS-PT ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, chị đã thu xếp ổn định cuộc sống cho ba con, nên chị vẫn đề nghị giao cả ba con cho chị có trách nhiệm nuôi dưỡng; chị có ý kiến yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng gồm: 01 nhà 02 tầng làm trên đất có nguồn gốc của bố mẹ anh Hùng, tài sản khác là các vật dụng sinh hoạt gia đình như ti vi, tủ lạnh, máy giặt, bình nóng lạnh, xe máy, laptop, giường, tủ, bàn ghế.... Về nợ chung chị xác định đã tự giải quyết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, về các khoản nợ khác anh H khai đều là khoản nợ riêng của anh H chị không có trách nhiệm trả nợ. Ngày 30/7/2020 chị có đề nghị rút toàn bộ yêu cầu phân chia tài sản chung. Do chị phải đi chấp hành án phạt tù nên chị đề nghị giải quyết vắng mặt.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:

1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Mạnh H và chị Cao Thị H1.

2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Lê Mạnh H trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung là Lê Thị Hà M, sinh ngày 05/7/2003, Lê Thị Vân Tr, sinh ngày 05/5/2008 và Lê Thị Gia H2, sinh ngày 24/7/2017 đến khi con chung thành niên hoặc đến khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Chấp nhận việc anh H không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con. Chị H1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về phân chia tài sản chung, nợ chung: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phân chia tài sản chung của chị Cao Thị H1. Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Anh Lê Mạnh H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền được 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Hùng đã nộp theo biên lai số 0002151 ngày 28/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy. Anh Lê Mạnh H đã nộp đủ án phí. Trả lại cho chị Cao Thị H1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 26.228.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002202 ngày 12/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TT.

Nơi nhận:
- Các đương sự;
- UBND xã TL;
- TAND tỉnh Thái Bình;
- VKSND tỉnh Thái Bình;
- VKSND huyện TT;
- Thi hành án dân sự huyện Thái Thụy;
- Lưu hồ sơ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Hương Lan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2020/HNGĐ-ST ngày 22/09/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn)

  • Số bản án: 64/2020/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/09/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho anh H ly hôn chị H1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger