Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 639/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Yến;
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 639/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 628/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024; đối với bị cáo:

Bị cáo Lê Văn Q, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2002, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: C, tổ F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lê Văn D, sinh năm: 1979 (còn sống); Họ tên mẹ: Vũ Thị V, sinh năm: 1978 (còn sống); Gia đình có 02 (hai) anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12 tháng 7 năm 2024, chuyển tạm giam từ ngày 21 tháng 7 năm 2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Anh Lý Trường H, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Số A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Lê Văn Q sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook thấy anh Lý Trường H, sinh năm: 1997, Hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, E, E, Đắk Lắk đăng bán điện thoại Iphone 15 ProMax trên mạng Facebook nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh H. Q liên hệ trao đổi qua mạng facebook thỏa thuận mua điện thoại di động Iphone 15 ProMax của anh H và gửi vị trí để anh H mang điện thoại di động đến gặp Q tại tổ G, khu phố C, phường T, thành phố B. Khoảng 13h00 ngày 11 tháng 7 năm 2024, Q điều khiển xe mô tô biển số 54X2-9551 đến cách địa điểm hẹn gặp H khoảng 200m, để xe lại rồi đi bộ đến điểm hẹn, ngồi ghế đá chờ gặp H. Khoảng 20 phút sau thì H điều khiển xe mô tô đến. Hận đưa điện thoại di động hiệu Iphone 15 ProMax cho Q xem. Một lúc sau Q giả vờ đồng ý mua điện thoại và yêu cầu H xóa hết mật khẩu, tài khoản trong điện thoại thì H làm theo. Q nói H đưa số tài khoản để chuyển tiền, lợi dụng lúc H không để ý, Q cầm điện thoại nhanh chóng bỏ chạy đến chỗ để xe mô tô biển số 54X2-9551 rồi lên xe chạy về tại địa chỉ C, tổ F, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Lúc này, anh H phát hiện Q cầm điện thoại của anh H chạy đi thì có đuổi theo Q nhưng không kịp.

Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, Q lấy điện thoại cướp được đưa đến dịch vụ cầm đồ Thành Phát địa chỉ: A N, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp anh Lê Đình P, sinh năm: 1995, Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa cầm cố với số tiền 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng) và sử dụng hết số tiền trên vào mục đích cá nhân.

Sau khi sự việc xảy ra, Anh H1 đã trình báo Công an phường T lập hồ sơ, tiến hành thu thập dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh đối tượng và xác định Lê Văn Q chính là người đã thực hiện hành vi cướp giật điện thoại của anh H1

Vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại hiệu Iphone 15 ProMax màu xanh đen, dung lượng 256Gb, số máy: MU693LL/A, số seri: F4JTG7X4NQ, EMEI 1: 359428794659979, EMEI 2: 359428796234797 dung lượng 256GB. Đây là tài sản của anh Lý Trường H. Ngày 26 tháng 7 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho anh Lý Trường H.
  • Xe mô tô hiệu Boss, biển số 54X2-9551, số máy: H-000480, số khung: 8H- 000480. Đây là phương tiện Q sử dụng để tẩu thoát sau khi phạm tội. Kết quả xác minh xác định là tài sản của Lê Văn D, SN: 1979 (cha ruột của Q). Quá trình điều tra xác định bị can Lê Văn Q tự ý lấy xe đi và chưa được sự đồng ý của anh Lê Văn D. Ngày 25 tháng 9 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho anh Lê Văn D.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng, số kiểu máy SM-G610F/DS có 02 thẻ sim (sim Vinaphone có gắn số điện thoại 0911.979.xxx, sim VNSKY số 0777294011). Đây là tài sản của Q. Q sử dụng điện thoại này để liên lạc, trao đổi với bị hại nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm, Cơ quan Cảnh sát Điều tra tạm giữ để xử lý.
  • 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105, số seri: 23KIG74VN00; Một áo thun màu đen nhãn hiệu Vogue; một quần tây màu xanh, bên trong quần có chữ Vu Cuong; 02 chiếc dép màu xám có ghi chữ “TOMMY HILFIGER. Đây là tài sản của Lê Văn Q. Xác định không liên quan đến vụ án, ngày 30/9/2024 Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho Lê Văn Q.
  • 01 USB có ký hiệu Kingston và 01 USB có ký hiệu DT101G2 lưu trữ dữ liệu điện tử video clip ghi nhận hành vi của Lê Văn Q chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 228/BB-HĐGĐTS ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 điện thoại hiệu Iphone 15 ProMax màu xanh đen, dung lượng 256Gb đã qua sử dụng trị giá 21.667.500 đồng (Hai mươi mốt triệu, sáu trăm sáu mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).

Về trách nhiệm dân sự:

  • Anh H không yêu cầu bồi thường về dân sự.
  • Anh Lê Đình P là chủ dịch vụ cầm đồ “Thành Phát” đã được gia đình Lê Văn Q trả lại số tiền 15.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 630/CT-VKSBH ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê văn Q về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Văn Q từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, trừ đi thời gian giam giữ theo quy định;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

3. Lời nói sau cùng:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn Q đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 15 ProMax trị giá 21.667.500 đồng của anh Lý Trường H thì bị Công an thành phố B khởi tố bắt tạm giam để xử lý theo quy định.

- Về tội danh: Từ các căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản Cáo trạng số: 630/CT-VKSBH ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên dù biết hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ Công an và ông ngoại bị cáo là người có công với Cách mạng nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về các vấn đề khác:

Đối với anh Lê Đình P là người nhận cầm điện thoại di động Iphone 15 ProMax do Lê Văn Q phạm tội mà có. Lời khai của P và bị cáo Q xác định P không biết điện thoại di động do Q phạm tội mà có nên hành vi của P không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[4] Về vật chứng:

  • 01 điện thoại hiệu Iphone 15 ProMax màu xanh đen, dung lượng 256Gb, số máy: MU693LL/A, số seri: F4JTG7X4NQ, EMEI 1: 359428794659979, EMEI 2: 359428796234797 dung lượng 256GB. Đây là tài sản của anh Lý Trường H. Ngày 26 tháng 7 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho anh Lý Trường H là phù hợp.
  • Xe mô tô hiệu Boss, biển số 54X2-9551, số máy: H-000480, số khung: 8H- 000480. Đây là phương tiện Q sử dụng để tẩu thoát sau khi phạm tội. Kết quả xác minh xác định là tài sản của ông Lê Văn D, sinh năm: 1979 (cha ruột của Q). Quá trình điều tra xác định bị cáo Lê Văn Q tự ý lấy xe đi và chưa được sự đồng ý của ông Lê Văn D. Ngày 25 tháng 9 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho ông Lê Văn D là phù hợp.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng, số kiểu máy SM-G610F/DS có 02 thẻ sim (sim Vinaphone có gắn số điện thoại 0911.979.xxx, sim VNSKY số 0777294011). Đây là tài sản của Q. Q sử dụng điện thoại này để liên lạc, trao đổi với bị hại nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105, số seri: 23KIG74VN00; Một áo thun màu đen nhãn hiệu Vogue; một quần tây màu xanh, bên trong quần có chữ Vu Cuong; 02 chiếc dép màu xám có ghi chữ "TOMMY HILFIGER. Đây là tài sản của Lê Văn Q. Xác định không liên quan đến vụ án, ngày 30 tháng 9 năm 2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho Lê Văn Q là phù hợp.
  • 01 USB có ký hiệu Kingston và 01 USB có ký hiệu DT101G2 lưu trữ dữ liệu điện tử video clip ghi nhận hành vi của Lê Văn Q, lưu giữ tại hồ sơ.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Anh H không yêu cầu bồi thường về dân sự; anh Lê Đình P là chủ dịch vụ cầm đồ “Thành Phát” đã được gia đình Lê Văn Q trả lại số tiền 15.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí:

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa:

Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị mức hình phạt là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội: “Cướp giật tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Lê Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 7 năm 2024.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng, số kiểu máy SM-G610F/DS có 02 thẻ sim (sim Vinaphone có gắn số điện thoại 0911.979.xxx, sim VNSKY số 0777294011). (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07 tháng 11 năm 2024)

  3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Lê Văn Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và các điều 7, 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS TP.Biên Hòa;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vũ Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 639/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 639/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn Q đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 15 ProMax trị giá 21.667.500 đồng của anh Lý Trường H thì bị Công an thành phố B khởi tố bắt tạm giam để xử lý theo quy định.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger