Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 638/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29/11/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thúy Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Quang Thị Ngà;

2. Bà Hoàng Thị An.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 504/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 20/11/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 44/2024/QÐST– HNGĐ ngày 25/11/2024, giữa:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1993

Nơi ở: Thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Phạm Đắc H, sinh năm: 1987

Nơi ở: Thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội

Có mặt: Nguyên đơn, bị đơn.

Vắng mặt: không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Phạm Đắc H kết hôn ngày tháng 8 năm 2014 tại UBND xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình anh H tại Thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cách sống không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn.

Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung là cháu Phạm Hải M, sinh ngày 13/5/2015 và cháu Phạm Đắc P, sinh ngày 14/01/2021. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng anh H. Ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi cả hai con. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Chị T hiện đang làm giáo viện tại Trường tiểu học X, thu nhập khoảng 9.000.000đ/ tháng.

Trong bản tự khai đề ngày 04/10/2024, bị đơn anh Phạm Đắc H trình bày:

Anh Phạm Đắc H và chị Ngô Thị T kết hôn và chung sống từ ngày 02/09/2014, có đăng ký kết hôn tạ UBND xã V, Đ, Hà Nội. Việc kết hôn dựa trên cơ sở tự nguyện và có tìm hiểu. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ đẻ anh H tại Thôn D, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Qua trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do anh H đi làm ăn xa, sống trầm tính, ít chia sẻ với chị T. Dù mâu thuẫn nhưng hai vợ chồng avãn chung sống. Mâu thuẫn được hai bên gia đình tìm cách tháo gỡ nhưng không được. Nay anh H xác định không còn tình cảm với chị T, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Phạm Hải M, sinh ngày 13/5/2015 và cháu Phạm Đắc P, sinh ngày 14/01/2021. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng anh H. Ly hôn cả anh H có nguyện vọng nuôi cả hai con. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Anh H đang làm kỹ sư tại Công ty CP Đ, thu nhập khoảng 14.000.000đ/tháng.

Tại biên bản ghi ý kiến ngày 14/10/2024, cháu Phạm Hải M có ý kiến như sau:

Hiện nay cháu M đang học lớp 4 tại Trường tiểu học V. Năm 2023, cháu được học sinh tiêu biểu. Ngày thường anh H đi làm xa nên cháu M tự học. Chị T cũng thường đi làm về muộn. Nay nếu bố mẹ ly hôn cháu M ở với ai cũng được vì hai nhà gần nhau, cháu có thể tự đi lại giữa hai nhà.

Kết quả điều tra xác minh tại địa phương xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội cho thấy:

Về quan hệ hôn nhân, tài liệu từ UBND xã thể hiện chị Ngô Thị T và anh Phạm Đắc H kết hôn năm 2014, trên cơ sở tự nguyện. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng sinh sống tại nhà chồng tại V, Đ, Hà Nội. Quá trình sống chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn là gì thì địa phương không năm rõ. Theo thông tin hàng xóm cung cấp, chị T đã về nhà cha mẹ đẻ tại thôn T, D sống được một thời gian. Nay chị T yêu cầu ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Phạm Hải M, sinh ngày 13/5/2015 và cháu Phạm Đắc P, sinh ngày 14/01/2021. Cháu M hiện đang học lớp 4 tại Trường Tiểu học V . Do anh H thường đi làm ăn xa nên cháu M thường được ông bà nội chăm sóc. Cháu P còn nhỏ, theo quan điểm của địa phương, cháu P cần sự chăm sóc của chị T. Đề nghị Tòa án giải quyết về con chung của anh chị theo pháp luật.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị T khẳng định vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm.

Bị đơn anh H đồng ý ly hôn và yêu cầu được nuôi cả hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
    • + Việc thụ lý vụ án: Thẩm phán thụ lý vụ án đúng theo qui định tại Điều 195 Bộ luật TTDS
    • - Về quan hệ tranh chấp: Sau khi nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án huyện Đ đã xác định quan hệ HNGĐ- Tranh chấp ly hôn theo qui định tại Điều 29 Bộ luật TTDS
    • - Về thẩm quyền giải quyết:Tranh chấp ly hôn thuộc phạm vi giải quyết của TAND huyện Đông Anh theo Điều 35 BLTTDS
    • - Về thời hiệu khởi kiện: Vụ án còn thời hiệu khởi kiện theo quy định BLDS 2015
    • - Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Đã xác định đầy đủ tư cách tham gia tố tụng của các đương sự theo Điều 68 Bộ Luật TTDS
    • + Về tống đạt các văn bản tố tụng: TAND thông báo về việc thụ lý vụ án và gửi thông báo cho VKS cùng cấp, nguyên đơn, bị đơn đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ Luật TTDS
    • + Việc thu thập chứng cứ: đã được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 97 đến 106 Bộ Luật TTDS
    • + Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng: Đã tuân theo quy định tại Điều 170 đến Điều 181Bộ Luật TTDS
    • + Việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại: Đã tuân theo quy định tại Điều 208 đến Điều 211Bộ luật tố tụng dân sự
    • + Về thời hạn chuẩn bị xét xử và thời hạn gửi hồ sơ sang Viện kiểm sát:
    • - Việc chuyển hồ sơ vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đúng quy định tại điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  2. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

    - Đối với nguyên đơn, bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các qui định tại Điều 70, 71, 186, 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.

  3. Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án

    Về mặt tình cảm:

    Xét thấy trong trường hợp này mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng. Nguyên nhân do chị T trình bày do cách sống không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhung mâu thuẫn vẫn nghiêm trọng khiến cho cuộc sống gia đình rât căng thẳng.

    Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh H, mục đích hôn nhân không đạt được nên đưa đơn lên Toà án nhân dân huyện Đông Anh để ly hôn.

    Anh H xác định không còn tình cảm với chị T nên thuận tình ly hôn.

    Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Phạm Hải M, sinh ngày 13/5/2015 và cháu Phạm Đắc P, sinh ngày 14/01/2021. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng anh H. Ly hôn cả anh H và chị T có nguyện vọng nuôi cả hai con. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

    Xét điều kiện và nguyện vọng nuôi con chung cả hai anh chị nhận thấy anh chị cùng có nơi ở, có thu nhập, đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung cháu nên giao mỗi cháu cho một người nuôi dưỡng là phù hợp.

    Về tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

    Đề nghị Hội đồng xét xử:

    Căn cứ: Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014

    Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Giao cháu Phạm Hải M cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Phạm Đắc P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

    Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQuốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, chị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh có đăng ký đăng ký nơi thường trú tại xã V, huyện Đ, như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Phạm Đắc H kết hôn ngày 21/8/2014 tại UBND xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội trên cơ sở tụ nguyện. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cách sống không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn trầm trọng. Chị T đã chuyển về ở nhà mẹ đẻ từ tháng 9/2024 (02 tháng) Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh H, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Anh H cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, anh H thuận tình ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Phạm Hải M, sinh ngày 13/5/2015 và cháu Phạm Đắc P, sinh ngày 14/01/2021. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng anh H. Ly hôn cả anh H và chị T có nguyện vọng nuôi cả hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, xét điều kiện và nguyện vọng nuôi con chung cả hai anh chị nhận thấy anh chị cùng có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung, không ai có vi phạm quyền và nghĩa vụ làm cha mẹ đối với các con. Xét giao mỗi người nuôi dưỡng một con chung là phù hợp. Tuy nhiên, xét giao con cho người trực tiếp nuôi con cũng cần xem xét đến độ tuổi của con chung. Cháu Hải M là con gái lớn, cháu đủ khả năng tự lo sinh hoạt cá nhân nên giao cho anh H nuôi dưỡng. Cháu P con nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ nên giao cháu P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.

Về tài sản chung: Chị T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp có tranh chấp tài sản chung, anh chị có quyền khởi kiện yêu cầu bằng một vụ án khác khi có đủ điều kiện theo pháp luật.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
  • - Điều 28, 35, 39; 203, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Luật thi hành án dân sự.

Xử:

  • - Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Ngô Thị T với anh Phạm Đắc H.
  • - Về con chung:
  • Giao cháu Phạm Hải M, sinh ngày 13/5/2015 cho anh Phạm Đắc H trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Phạm Đắc P, sinh ngày 14/01/2021 cho chị Ngô Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
  • Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét.
  • Chị T, anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • - Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp có tranh chấp tài sản chung, anh H, chị T có quyền khởi kiện yêu cầu bằng một vụ án khác khi có đủ điều kiện theo pháp luật.
  • - Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận chị T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai số 0071271 ngày 02/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, nay chuyển thành án phí, chị T đã nộp đủ án phí.
  • - Về quyền kháng cáo: Chị T, anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn số 69/2014, quyển số 01/2014 ngày 21/8/2014);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Triệu Thuý Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 638/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 638/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ngô Thị Thịnh ly hôn với anh Phạm Đắc Hải
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger