Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 638/2024/HS-ST

Ngày: 25-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Chánh
  2. Ông Trần Hữu Hậu

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Tống Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 628/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 618/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 và Thông báo dời lịch ngày 18/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn H; Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: Không;

Sinh năm 1999, tại tỉnh Đồng Tháp;

Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định (Đăng ký thường trú: Số nhà D, Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp);

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: Lớp 03/12 Nghề nghiệp: Không. Chức vụ: Không.

Họ và tên cha: Phan Văn H1; Sinh năm 1984 (Còn sống);

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T; Sinh năm 1977 (Còn sống);

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;

Sống chung như vợ chồng với chị Trần Thị Hồng T1, Sinh năm: 1997; có 02 con sinh năm 2017 và năm 2020;

Tiền án: Ngày 05/5/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt ngày 04/04/2023.

Tiền sự: Không.

Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ ngày 08/8/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại giam B Công an tỉnh Đ.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đăng H2, sinh năm: 2000.

Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế.

(có đơn xin vắng mặt)

- Bị hại: Chị Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1996.

Địa chỉ: tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(có đơn xin vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Lâm Thị N, sinh năm: 1970.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Khoảng 14 giờ ngày 29/7/2024, H một mình điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 66B1-897.17 mang theo 01 (Một) tua vít dài đi từ phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến thành phố B, tỉnh Đồng Nai tìm tài sản sơ hở trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày khi đi đến dãy nhà trọ tại tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, H thấy dãy trọ không có cổng, không có người trông coi nên điều khiển xe mô tô biển số 66B1-897.17 đi vào trong, đến phòng trọ số 09A do anh Nguyễn Đăng T2 (Sinh năm: 2000, Thường trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế) và chị Nguyễn Ngọc L (Sinh năm 1996, Thường trú: tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) thuê trọ. H dùng tua vít đã chuẩn bị sẵn cạy bung ổ khóa sau đó mở cửa phòng trọ đi vào, lục lọi tủ sắt thì lấy được 01 (Một) nhẫn trơn màu vàng, 01 (Một) nhẫn kiểu màu vàng có đính đá màu trắng, 01 (Một) sợi dây chuyền màu trắng và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vsmart rồi bỏ tất cả tài sản trên vào túi quần đi ra ngoài. Sau đó, cũng với thủ đoạn như trên H dùng tua vít cạy ổ khóa phòng trọ số 08A do chị Lâm Thị N (Sinh năm 1970, thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang) thuê trọ. Tuy nhiên khi vào phòng trọ, H không thấy tài sản nào có giá trị nên bỏ ra ngoài rồi điều khiển xe mô tô biển số 66B1-897.17 đi về phòng trọ của H tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi lấy nhẫn trơn màu vàng vừa trộm cắp được đến tiệm vàng gần nhà trọ của H thử lại thì biết được là vàng giả, H đã vứt bỏ chiếc nhẫn này. Số tài sản còn lại chiếm đoạt được, H cất giữ tại phòng trọ.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Đăng T2 đi làm về thì phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Công an phường H, thành phố B trình báo sự việc. Công an phường H lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền. Qua xác minh, truy xét, trích xuất camera xác định Phan Văn H có dấu hiệu nghi vấn. Đến ngày 08/08/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại phòng trọ số B, khu phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thu giữ: 01 (Một) nhẫn kiểu màu vàng có đính đá màu trắng, 01 (Một) sợi dây chuyền màu trắng, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vsmart cùng 01 (Một) xe mô tô hiệu sirius biển số 66B1-897.17 và 01 (Một) tua vít.

Quá trình điều tra, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 66B1-897.17, số máy E32VE388956, số khung RLCUE3740MY105697 và 01 (Một) tua vít dài 20 cm là tài sản của H sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ, chuyển xử lý cùng vụ án.
  • + 01 (Một) nhẫn kiểu màu vàng có đính đá màu trắng, 01 (Một) sợi dây chuyền màu trắng và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Vsmart bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ và trả lại cho anh Nguyễn Đăng T2 và chị Nguyễn Ngọc L theo quy định.
  • + 01 (Một) nhẫn trơn màu vàng bị chiếm đoạt, H khai nhận đã vứt đi, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu giữ được.
  • + 01 USB chứa video nội dung vụ án, lưu cùng hồ sơ.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 258/KL-HĐĐGTS ngày 12/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

  • + 01 (Một) điện thoại di động Vsmart VOS3.0 trị giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng);
  • + 01 (Một) nhẫn vàng 14K trị giá 7.613.110 đồng (Bảy triệu sáu trăm mười ba nghìn một trăm mười đồng);
  • + 01 (Một) sợi dây chuyền màu trắng và 01 (Một) nhẫn màu vàng: Trên cơ sở lời khai bị hại, tài sản đã qua sử dụng, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, hoá đơn, Hội đồng thống nhất không định giá.

Tổng tài sản bị chiếm đoạt trị giá 8.113.110 đồng (Tám triệu một trăm mười ba nghìn một trăm mười đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đăng T2 và chị Nguyễn Ngọc L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 617/CT-VKSBH-HS ngày 22/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù. Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

[1.1] Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[1.2] Bị hại anh Nguyễn Đăng T2 và chị Nguyễn Ngọc L, nhân chứng bà Lâm Thị N vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của bị hại, người làm chứng. Xét thấy, việc vắng mặt anh T2, chị L và bà N không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội:

Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản, biên bản lấy lời khai bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 29/7/2024, tại dãy nhà trọ tại tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Phan Văn H đã có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Đăng T2 và chị Nguyễn Ngọc L: 01 (Một) điện thoại di động Vsmart VOS3.0 trị giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), 01 (Một) nhẫn vàng 14K trị giá 7.613.110 đồng (Bảy triệu sáu trăm mười ba nghìn một trăm mười đồng) và 01 (Một) sợi dây chuyền màu trắng cùng 01 (Một) nhẫn màu vàng (Không định giá được giá trị). Tổng giá trị tài sản Hậu chiếm đoạt là 8.113.110 đồng (Tám triệu một trăm mười ba nghìn một trăm mười đồng).

- Về tội danh:

Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 617/CT-VKSBH-HS ngày 22/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo là người là người đã trưởng thành, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo tái phạm (quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

[3] Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tua vít dài 20 cm H sử dụng làm công cụ phạm tội;
  • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 66B1-897.17, số máy E32VE388956, số khung RLCUE3740MY105697 H sử dụng làm phương tiện phạm tội.

[4] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Đối với hành vi cạy ổ khoá để vào phòng trọ chiếm đoạt tài sản vào ngày 29/7/2024 của H, giá trị tài sản bị thiệt hại nhỏ, anh T2, chị L, chị N không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tài sản trộm cắp đã trả lại, bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[5] Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên:

Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
    • - Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Phan Văn H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 8 năm 2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tua vít dài 20 cm H sử dụng làm công cụ phạm tội;
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 66B1-897.17, số máy E32VE388956, số khung RLCUE3740MY105697 H sử dụng làm phương tiện phạm tội.

    Theo biên bản giao nhận tài sản ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Phan Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 638/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 638/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger