|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 638/2024/HNGĐ - PT Ngày: 16 – 12 – 2024 “Về việc ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Ngọt |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hữu Lương |
| Ông Phạm Thị Thu Trang | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên. |
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn” do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4238/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 4718/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phùng Thị N, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số C, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số C, ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Văn T – Văn phòng Luật sư Trương Văn T thuộc Liên đoàn Luật sư tỉnh B. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Võ Hữu S, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số C, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (ủy quyền về phần tài sản):
- Bà Nguyễn Thanh L, sinh năm 1977; (Có mặt)
- Chị Cao Thị Hoàng H, sinh năm 1994; (Có mặt)
Địa chỉ: Số C đường P, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Võ Hoàng Đ1, sinh năm 1983; (Có mặt)
- Bà Lê Thị Q, sinh năm 1954; (Đã mất)
- Ông Phạm Văn B, sinh năm 1975; (Đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt)
- Ông Võ Hoàng T1, sinh năm 1959; (Đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt)
- Ông Phan Văn Đ2, sinh năm 1967; (Đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt)
- Ông Nguyễn Thành T2. sinh năm 1972; (Đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt)
- Bà Lê Thị Hồng H1, sinh năm 1983; (Có mặt)
- Ông Võ Hoàng L1, sinh năm 1987; (Có mặt)
- Bà Võ Thị K, sinh năm 1984; (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phùng Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Bà N và ông S chung sống với nhau vào năm 1983, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai bên thường xuyên cự cãi lẫn nhau.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nay bà N yêu cầu được ly hôn với ông S. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
Về con chung: Có 02 con chung là Võ Hoàng Đ1, sinh năm 1983 và Võ Hoàng L1, sinh năm 1987. Hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Tại đơn yêu cầu chia tài sản chung, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, bị đơn ông Võ Hữu S và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thanh L trình bày:
Ông S trình bày:
- + Về hôn nhân: Qua yêu cầu xin ly hôn của bà Phùng Thị N, ông S đồng ý ly hôn.
- + Về con chung: Có 02 con chung là Võ Hoàng Đ1, sinh năm 1983 và Võ Hoàng L1, sinh năm 1987. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- + Về phần nợ chung: không có.
- + Về phần tài sản chung ông S có ý kiến như sau: Về tài sản theo bà N trình bày là không có tài sản chung ông S không đồng ý. Ông S và bà N chung sống với nhau vào năm 1983, quá trình chung sống vợ chồng ông S và bà N đã dành dụm một số tiền để mua một số tài sản gồm: thửa số 71 có diện tích 5.715m²; thửa số 210 có diện tích 2.975,9m²; thửa 254 có diện tích 1.000m²; thửa số 209 có diện tích 2.038,4m²; thửa số 122 có diện tích 1.153,8m². Các thửa đất nêu trên cùng tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Từ năm 1994 đến nay, tất cả các thửa đất tuy do bà Phùng Thị N đứng tên quyền sử dụng đất nhưng ông và bà N cùng quản lý sử dụng từ khi tạo lập được cho đến nay. Về nguồn gốc các thửa đất được hình thành trong thời kì hôn nhân, cụ thể như sau:
- - Nguồn gốc thửa đất số 71, diện tích 5.715m²: Vào khoảng năm 1989, ông và bà N có mua đất của dì bà N là bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị C1 02 thửa đất là thửa 473 với diện tích 300m² và thửa 474 với diện tích 5.575m² cùng tờ bản đồ số 2; tổng diện tích 02 thửa đất trên là 5.875m². Sau đó, hai thửa 473 và 474 này hợp thành thửa đất số 71 tờ bản đồ số 17 có diện tích 5.715m² tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N vào ngày 28/05/2014. Trên thửa đất có 01 căn nhà 03 căn chữ đinh có diện tích tổng là 199,5m² (trong đó: nhà chính có diện tích 164,5m², nhà sau 35m²) do ông và bà N xây dựng từ năm 1997. Năm 2018, ông và bà N có sửa chữa, lợp mái tole, gắn kiếng cửa cây căn nhà ông S và bà N đang ở. Căn nhà có giá trị 330.460.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu, bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Hiện tại, căn nhà này do ông và con chung của ông với bà N là anh Võ Hoàng L1, chị Võ Thị K (vợ anh L1) đang quản lý sử dụng. Đồng thời, trên thửa đất còn có căn nhà có diện tích 140,7m² xây dựng vào năm 2021 do anh Võ Hoàng Đ1 và bà N đang quản lý sử dụng.
- - Nguồn gốc thửa đất số 210, diện tích 2.975,9m²: Vào năm 2008, cha mẹ bà N có cho bà N 1000m² thửa 1589, tờ bản đồ số 2. Sau đó, vợ chồng ông tiếp tục mua phần còn lại của thửa đất số 1589, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.999,7m². Hai bên, bà D và bà N ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất 1589 với diện tích 2.999,7m² tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/5/2008. Sau khi được cấp quyền sử dụng thửa đất vào năm 2008 thì ông và bà N cùng nhau quản lý sử dụng thửa đất này. Sau đó, thửa đất 1589 tờ bản đồ số 2 nêu trên được cấp lại thành thửa số 210, tờ bản đồ số 17, diện tích 2.975,9m² và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N vào ngày 28/05/2014.
- - Nguồn gốc thửa đất số 254 (tách từ thửa 122), diện tích 1.000m²: Vào năm 2015, ông và bà N có mua của em ruột của bà N là ông Phùng Văn H2 thửa đất số 254 (tách từ thửa 122), tờ bản đồ số 17, diện tích 1.000m², tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre bằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/6/2015 và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N vào ngày 13/07/2015.
- - Nguồn gốc thửa đất số 209, diện tích 2.038,4m²: Vào ngày 29/6/2015, ông và bà N mua thêm của vợ chồng bà Phùng Thị V (em ruột bà N) và ông Huỳnh Thiện T3 thửa đất số 209, tờ bản đồ số 17, diện tích 2.038,4m² tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Hai bên có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/6/2015 và bà N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/7/2015.
- - Nguồn gốc thửa đất số 122, diện tích 1.153,8m²: Vào đầu năm 2016, ông và bà N có mua thêm của em ruột của bà N là ông Phùng Văn H2 thửa đất số 122, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.153,8m², tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre và bà N được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/01/2017; trên thửa đất này có 01 ngôi mộ.Từ năm 2010 về sau này ông có nghe bà N nói với ông là hiện tại vợ chồng làm đã có dư, nợ tiền mua đất đã trả hết sẽ dành dụm tiền mua thêm đất sau này để lại cho con, đến năm 2017 ông được cha mẹ ruột cho một phần đất ở B ông cùng bà N cũng đã bán phần đất này được số tiền 135.000.000 đồng lấy tiền tu bổ vào khu vườn và sửa chữa nhà cửa.
Tất cả các thửa đất trên, một số thửa khi mua ông và bà N đã làm Hợp đồng tặng cho với mục đích để miễn thuế. Do bà N là người giữ tiền trong gia đình, khi mua đất bà N là người thanh toán tiền, thời gian mua đã lâu nên ông S không nhớ rõ cụ thể từng thửa đã mua là bao nhiêu tiền. Vì là vợ chồng tin tưởng nhau, ông chỉ biết lo làm vườn còn bà N thì lo vòng ngoài nên ông S để cho bà N đứng tên tất cả các thửa đất trên. Sau khi bà N được cấp quyền sử dụng đất, bà N đã đưa tất cả tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng để cả hai cùng nhau canh tác quản lý sử dụng.
Do bà N không đồng ý chia tài sản chung khi ly hôn nên ông S có đơn phản tố yêu cầu như sau: Ông S yêu cầu chia ½ tài sản chung bao gồm 05 thửa đất và tài sản là cây trồng và vật kiến trúc trên đất.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023 ông S có đơn bổ sung yêu cầu phản tố với các yêu cầu sau:
- - Yêu cầu bà Phùng Thị N chia ½ số vàng mà bà N đã giữ là 120 chỉ vàng (khoảng 5.700.000 đồng/1 chỉ), tương đương với số tiền là: 120 chỉ x 5.700.000 đồng = 684.000.0000 đồng, tương đương ông S nhận số tiền là 342.000.000 đồng.
- - Yêu cầu chia ½ giá trị cây trồng trên đất tại các thửa: 71, 209, 210, 254, 122. Tổng cộng có khoảng 600 cây dừa trên 05 thửa đất nêu trên với giá là 1.500.000 đồng/cây, tương đương số tiền là: 600 cây dừa x 1.500.000 đồng/1cây = 900.000.000 đồng, tương đương ông S được nhận số tiền là 450.000.000 đồng.
- - Yêu cầu chia ½ số tiền bán thửa đất số 601, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre. Số tiền bán được bà Phùng Thị N đã dùng để mua vàng và cất giữ khoảng 4 cây vàng (tính theo giá vàng hiện tại khoảng 5.700.000 đồng/chỉ), tương đương số tiền là 40 chỉ vàng x 5.700.000 đồng/1chỉ = 228.000.000 đồng, ông S yêu cầu nhận giá trị, tương đương ông S sẽ nhận số tiền là 114.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền ông S yêu cầu nhận từ bà Phùng Thị N là 906.000.000 đồng.
Tại phiên tòa ông S rút toàn bộ yêu cầu phản tố bổ sung với lý do ông S cho rằng việc bổ sung phản tố của ông chỉ để chứng minh hơn 40 năm ông và bà N chung sống phần tài sản tạo lập được và phần tài sản riêng của gia đình ông tất cả đều đã được sáp nhập vào khối tài sản chung là đất và toàn bộ tài sản trên 05 thửa đất.
Phần yêu cầu phản tố, ông S yêu cầu Tòa án giải quyết cụ thể:
- Tại các lần hòa giải ông và bà N đều thống nhất chia bằng hiện vật ½ thửa số 71, tờ số 17, diện tích 5.715m², có 300m² đất ở, mỗi người nhận ½ diện tích đất phần ông S được nhận phần đất có nhà và hoàn lại giá trị căn nhà cho bà N và thửa 209 mỗi người nhận ½ thửa đất cây trồng trên đất của ai người đó hưởng, đây là sự thỏa thuận của ông và bà N đề nghị Tòa án ghi nhận. Do phần đất của ông yêu cầu được chia có đi qua phần đất của thửa 208 tờ bản đồ số 17 do con trai ông là anh Võ Hoàng Đ1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại các lần hòa giải anh Đ1 cũng đã thống nhất dành lối đi chung vĩnh viễn cho ông đi qua và vận chuyển nông sản, phần lối đi có nhiều ngang 1.5m và chiều dài hết thửa dọc theo lối đi hiện hữu, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Riêng đối với các thửa 122, 254, 210 do ông và bà N không thỏa thuận được nên ông S vẫn giữ yêu cầu được xem xét chia ½ các thửa đất và yêu cầu được nhận bằng hiện vật do ông có nhu cầu sử dụng canh tác đất vì đây là nguồn kinh tế chính của ông, do ông đã yêu cầu được nhận đất nên phần cây trồng trên đất của ai người đó hưởng, trường hợp chia bằng giá trị ông yêu cầu được xem xét toàn bộ cây trồng và vật kiến trúc trên đất để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Ông S không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Hoàng Đ1 trình bày:
Anh là con ruột của ông S và bà N phần đất thuộc thửa số: 208-1, tờ số 17 có diện tích 1.018,2m² là của anh tạo lập, nếu phần tài sản là đất của cha mẹ anh có phân chia thì cha mẹ anh phải đi trên phần đất của anh mới vào phần đất của mình để thăm vườn, anh đồng ý cho bà N và ông S đi nhờ trên phần đất của anh với chiều ngang 1,5m, chiều dài là dài hết đất. Căn nhà của anh trên thửa 71 anh không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Hoàng L1 trình bày:
Đất là của cha mẹ anh chung sống tạo lập nên anh có ý kiến là chia đều để cha anh ông S có nguồn thu để sống.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị K trình bày: Chị thống nhất như ý kiến của chồng chị (anh L1) tài sản là đất của cha mẹ chồng chị chung sống tạo lập nên chia đều để ông S cho nguồn tiền để sinh sống. Do chị bận đi làm sau này có xét xử chị xin vắng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Hồng H1 trình bày: Chị là vợ anh Đ1 là dâu trong gia đình, đất đai tài sản là của cha mẹ chồng chị, nên Tòa án giải quyết theo luật định, chị không có ý để xen vào. Do bận công việc, sau này Tòa án mời chị đến dự phiên tòa, chị xin vắng mặt.
Tại các biên bản làm việc ngày 17/6/2022, ngày 12/01/2023, ngày 13/12/2022 bà Lê Thị Q, ông Phạm Văn B, ông Võ Hoàng T1, ông Phan Văn Đ2, ông Nguyễn Thành T2 có lời trình bày:
Căn cứ vào kết quả đo đạc ngày 19/5/2022 thì phần ranh đất của các ông bà giáp với các phần đất của vợ chồng ông S và có sự chênh lệch về số đo. Các ông, bà thống nhất về sau sẽ lấy lại ranh theo hồ sơ địa chính. Do công việc làm ăn sau này Tòa án có mời các ông bà đến tham dự phiên tòa, ông bà xin vắng mặt.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành quyết định:
Căn cứ vào các Điều 56, 33, 38, 43 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phùng Thị N đối với ông Võ Hữu S.
Cho bà Phùng Thị N ly hôn với ông Võ Hữu S.
Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông S chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận bà N và ông S không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
- Về con chung: Có 02 con chung là Võ Hoàng Đ1, sinh năm 1983 và Võ Hoàng L1, sinh năm 1987, các con đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung:
3.1. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Võ Hữu S đối với các yêu cầu: chia số tiền bán thửa đất số 601, tờ bản đồ số 4, tọa lạc xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre với số tiền là 135.000.000 đồng; yêu cầu chia 120 chỉ vàng 24k và yêu cầu chia ½ giá trị cây trồng trên 05 thửa đất.
3.2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Võ Hữu S cụ thể:
* Chia bằng hiện vật phần đất và tài sản trên đất thửa đất số 71, tờ bản đồ số 17 có diện tích 5.715m² và thửa số 209, tờ bản đồ số 17 có diện tích 2.038,4m² cùa tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Ông S được nhận ½ diện tích đất thuộc thửa 71, tờ bản đồ số 17 là 2.876,2m². Trong đó có 150m² đất nông thôn và căn nhà trên đất, kết cấu như sau: nhà chữ đinh và các công trình trên đất ông S yêu cầu được nhận thuộc thửa 71 tờ 17 gồm các (thửa 71-3 một phần nhà gạch có diện tích 14,7m²); (thửa 71-4 một phần nhà tạm có diện tích có diện tích 4,0m²); (thửa 71 – 6 một phần nhà gạch có diện tích 145,7m²); (thửa 71-7 là nhà tắm có diện tích 4,1m²); (thửa 71-8 một phần nhà tạm có diện tích là 31,0m²); (thửa 71-9 là đất diện tích 2.676,7m²). Đất có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp giáp phần đất còn lại của bà N.
- Hướng Tây giáp đất Nguyễn Thành T2.
- Hướng Nam giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
- Hướng Bắc giáp đường xã.
- Phần đất 71 tờ bản đồ số 17, còn lại bà Phùng Thị N tiếp tục quản lý sử dụng trên phần này có nhà của anh Võ Hoàng Đ1 đất có diện tích 2.838,9m². Trong đó có 150m² đất ở nông thôn gồm: các thửa 71-1 là nhà gạch có diện tích 98,1m²; thửa 71-2 là nhà tiền chế có diện tích 21,3m²; thửa số 71-5 là đất có diện tích 2.719,5m². Đất có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất bà Lê Thị Q.
- Hướng Tây phần đất của ông S được nhận.
- Hướng Nam giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
- Hướng Bắc giáp đường xã.
(Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Buộc ông Võ Hữu S phải hoàn ½ giá trị căn nhà trên thửa 71 cho bà Phùng Thị N số tiền là 165.230.000 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu hai trăm ba chục ngàn đồng).
Ghi nhận các bên đương sự không yêu cầu gì đối với căn nhà của anh Võ Hoàng Đ1 trên thửa 71, tờ bản đồ số 17.
- Thửa đất số 209, tờ bản đồ số 17, có diện tích 2.038.4 m². Ông Võ Hữu S được nhận ½ diện tích là 1.019,3 m². Đất ông S nhận có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất còn lại của bà Phùng Thị N.
- Hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Thành T2.
- Hướng Nam giáp thửa đất số 122.
- Hướng Bắc giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
- Phần đất thửa số 209, tờ số 17 còn lại bà Phùng Thị N được tiếp tục quản lý sử dụng ½ diện tích là 1.019,1m². Đất có thực trạng như sau:
- Hướng Đông giáp đất ông Phan Văn Đ2.
- Hướng Tây giáp phần đất của ông S được nhận.
- Hướng Nam giáp thửa đất số 122.
- Hướng Bắc giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
(Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 71 và thửa 209, tờ bản đồ số 17, theo qui định (có bản vẽ kèm theo).
* Đối với các thửa đất được chia bằng giá trị:
- Bà Phùng Thị N được tiếp tục quản lý sử dụng các thửa đất thửa đất số thửa đất số 122, tờ số 17, diện tích 1.153,8m²; thửa đất số 210, tờ số 17, diện tích 2.975,9m²; thửa đất số 254, tờ số 17, diện tích 1.000m² cùng tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Buộc bà Phùng Thị N phải bồi hoàn công sức cho ông S nhận. Cụ thể:
- + Thửa đất số 122 tờ 17 có tổng giá trị là 532.470.000 đồng x 40% = ông S được nhận do bà N giao lại với số tiền là 212.988.000 đồng.
- + Thửa đất số 254, tờ số 17 có tổng giá trị là 479.200.000 đồng x 40% = ông S được nhận do bà N giao lại với số tiền là 191.200.000 đồng.
- + Thửa đất số 210, tờ số 17, có tồng giá trị là 1.342.160.000 đồng x 40% = ông S được nhận do bà N giao lại với số tiền là 536.864.000 đồng.
Tổng số tiền buộc bà Phùng Thị N phải bồi hoàn công sức cho ông Võ Hữu S là 941.051.000 (Chín trăm bốn mươi mốt triệu không trăm năm mươi mốt nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3.3. Bà Lê Thị Q, ông Phạm Văn B, ông Võ Hoàng T1, ông Phan Văn Đ2, ông Nguyễn Thành T2 với ông S, bà N thống nhất sẽ lấy lại ranh theo hồ sơ địa chính, không yêu cầu giải quyết về ranh nên được ghi nhận.
3.4. Ghi nhận anh Võ Hoàng Đ1 cho ông S, bà N đi nhờ qua phần đất thuộc thửa số 208, tờ 17 để ông S, bà N đi vào các phần đất nằm ở bên trong phần đất của anh Đ1 để ông bà thăm vườn, lối đi có diện tích ngang 1,5m, dài từ đầu đất thửa số 208, tờ 17 đến cuối thửa đất số 208, tờ số 17.
3.5. Ông Võ Hữu S đang quản lý sử dụng 03 bồn nhựa 2.000 lít hiệu SONHA, 02 hồ nước bồn xi măng tròn 3m³, bà Phùng Thị N không yêu cầu chia nên không xét đến.
- Về nợ chung: Bà N và ông S cùng khai không có, nên không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn bà Phùng Thị N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo hướng: Bác toàn bộ yêu cầu phản tố về việc phân chia tài sản chung của ông Võ Hữu S.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phùng Thị N giữ nguyên kháng cáo, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Võ Hữu S không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn, ông S yêu cầu giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Các thửa đất 122, 254, 210 tờ bản đồ số17 là tài sản riêng của bà N được nhận thừa kế, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà N. Sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 73/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông S về việc yêu cầu chia công sức đóng góp trên thửa 122, 254, 210.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của nguyên đơn bà Phùng Thị N là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên xử theo hướng: không chấp nhận kháng cáo của bà Phùng Thị N; Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 73/2024/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Phùng Thị N, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phùng Thị N kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Các đương sự bà Lê Thị Q; ông Phạm Văn B; ông Võ Hoàng T1; ông Phan Văn Đ2; ông Nguyễn Thành T2 đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt; Hội đồng xét xử nhận thấy các đương sự chỉ giáp ranh các thửa đất tranh chấp, không liên quan đến kháng cáo của nguyên đơn bà Phùng Thị N nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
[1]Về hôn nhân: Bà Phùng Thị N và ông Võ Hữu S chung sống với nhau vào năm 1983 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa bà N và ông S có hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà N trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau. Xét thấy, mâu thuẩn giữa hai bên là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà N xin được ly hôn, ông S đồng ý. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông S là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà N và ông S không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn nên ghi nhận.
[2] Về con chung: Có 02 con chung là Võ Hoàng Đ1, sinh năm 1983 và Võ Hoàng L1, sinh năm 1987, các con chung đã trưởng thành nên Tòa án không xét đến.
[3] Về tài sản chung:
Trong thời kỳ hôn nhân ông S và bà N có quản lý sử dụng 05 thửa đất gồm: Thửa đất số 71, diện tích 5.715m² trong đó có 300m² đất ở nông thôn và căn nhà chữ đinh trên đất; thửa đất số 209, diện tích 2.038m², thửa đất số 122, diện tích 1.153,8m²; thửa đất số 210, diện tích 2.975,9m²; thửa đất số 254, diện tích 1.000m²; các thửa đất cùng tờ bản đồ số 17 và đều tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Ông S có yêu cầu chia ½ diện tích đất các thửa đất nêu trên, ông xin nhận bằng hiện vật. Trên thửa đất số 71 có căn nhà của anh Đ1, tất cả các đương sự thống nhất đồng ý để cho anh Đ1 tiếp tục ở và không có yêu cầu gì trong vụ án này nên không xem xét.
[4] Về nợ chung: Bà N và ông S cùng khai không có, nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét.
[5] Các đương sự không có kháng cáo về hôn nhân, về con chung, về nợ chung; Viện kiểm sát không có kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bà N chỉ kháng cáo một phần về phần tài sản chung, không đồng ý yêu cầu phản tố của ông S về việc chia giá trị các thửa đất số 122, 254, 210 tờ bản đồ số 17 tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
[6] Xét kháng cáo của bà Phùng Thị N, nhận thấy:
[6.1] Bị đơn ông Võ Văn S1 có đơn phản tố về yêu cầu chia 05 thửa đất nêu trên: Ông S1 cho rằng 05 thửa đất này là của vợ chồng ông dành dụm tiền để mua nên yêu cầu được nhận ½ diện tích của 05 thửa đất nêu trên, tuy nhiên ông S1 không có chứng cứ, chứng minh đối với 03 thửa đất 122, 210, 245, cùng tờ số 17. Theo hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C cung cấp thể hiện: Thửa số 122 và thửa số 254, tờ số 17 có nguồn gốc của ông Phùng Văn H2 tặng cho bà N và bà N thừa kế theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế (Bút lục số 116, 181, 184); Thửa đất số 210 do bà D (mẹ bà N) tặng cho bà N. Tuy bà N được thừa kế và tặng cho trong thời kỳ hôn nhân nhưng là tài sản riêng của bà N theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình, bà N được đứng tên quyền sử dụng đất, ông S1 không cùng đứng tên với bà Bà N các thửa đất này nên ông S1 yêu cầu chia ½ các thửa đất trên là không có cơ sở chấp nhận toàn bộ. Đối với 02 thửa đất số 71 và thửa đất số 209, cùng tờ số 17 do ông S1 với bà N nhận chuyển nhượng của bà Phùng Thị V và bà Nguyễn Thị C trong thời kỳ hôn nhân, ông S1 yêu cầu chia đôi 02 thửa đất 71 và thửa 209; tại phiên tòa sơ thẩm bà N cũng đồng ý chia bằng hiện vật hai thửa đất trên, yêu cầu chia tài sản chung của ông S1 đối với hai thửa đất 71 và 209 và được nhận bằng hiện vật là có cơ sở nên được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp. Theo đơn kháng cáo, bà N kháng cáo không đồng ý chia 02 thửa đất nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà N xác định lại là bà N chỉ kháng cáo không đồng ý chia giá trị cho ông S1 các thửa đất số 122,254,210.
[6.2] Bà Phùng Thị N kháng cáo không đồng ý chia giá trị cho ông S1 đối với các thửa đất số 122, 254, 210 cùng tờ bản đồ số 17. Bà N cho rằng các thửa đất này là do bà được gia đình bà tặng cho riêng, đây là tài sản riêng của bà nên bà không đồng ý chia cho ông S1. Mặc dù, ông S1 không chứng minh được các thửa đất số 122, 254, 210 là tài sản chung của vợ chồng cùng tạo lập, tuy nhiên ông S1 là người trực tiếp canh tác đối với các thửa đất nêu trên tính đến nay đã hơn 40 năm nên cần xem xét công sức đóng góp của ông S1.
[6.4] Qua xác minh ông Huỳnh Khắc T4 và ông Đặng Văn P thể hiện trước đây là đất trồng dừa ta, sau đó đốn dừa trồng nhãn, hiện nay trồng dừa xiêm. Xét thấy, ông S1 là trụ cột trong gia đình ông đã bỏ công sức rất nhiều trên các thửa đất này, hiện cây trái hoa màu trên đất là do ông S1 bỏ ra gần 40 năm nên mới có được như ngày hôm nay. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N cũng thừa nhận rằng ông S1 là người trực tiếp chăm sóc cây trồng trên các thửa đất từ khi ông bà chung sống vợ chồng với nhau, vào năm 2017 bà N cũng là người trực tiếp nhận tiền chuyển nhượng thửa đất 601 do gia đình ruột của ông S1 cho ông, số tiền bán được 135.000.000 đồng bà N giao ông S1 tu bổ vườn và sửa nhà. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh L1 (là con của bà N và ông S1) cho rằng ông S1 có công sức đóng góp, lao động trên các thửa đất 122, 254, 210 rất nhiều. Hội đồng xét thấy, ngoài công sức tôn tạo chăm sóc, canh tác trên các thửa đất ông S1 còn sáp nhập một phần tài sản của cá nhân ông vào tài sản mà ông và bà N đang canh tác, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận công sức cho ông S1 được hưởng 40% giá trị đất và hoa màu trên đất của các thửa đất 122, 254, 210, cùng tờ số 17, theo giá Hội đồng định giá tài sản huyện C là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Do các thửa đất này có nguồn gốc là của gia đình bên dòng họ, gia đình bà N nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về việc bà N được tiếp tục quản lý sử dụng các thửa đất số 122, 254, 210 cùng tờ bản đồ số 17; buộc bà N phải bồi hoàn công sức cho ông S1 nhận 40% giá trị đất và hoa màu trên các thửa đất với số tiền tổng cộng 941.052.000 đồng, bao gồm: (212.988.000 đồng của thửa đất 122) + (191.200.000 đồng của thửa đất số 254) + (536.864.000 của thửa đất số 210) theo bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Bà N kháng cáo yêu cầu bác yêu cầu phản tố của ông S1 về việc phân chia giá trị tài sản chung đối với các thửa đất số 122, 254, 210 cùng tờ bản đồ số 17 là không có cơ sở để chấp nhận.
[7] Từ những phân tích trên, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Bà N kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới chứng minh tại phiên tòa phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Phùng Thị N; Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 73/2024/HNGĐ-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
[8] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Phùng Thị N là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Phùng Thị N phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phùng Thị N;
Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 73/2024/HNGĐ-ST ngày 05/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre;
Áp dụng Điều 56, 33, 38, 43 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phùng Thị N đối với ông Võ Hữu S.
Cho bà Phùng Thị N ly hôn với ông Võ Hữu S.
Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông S chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận bà N và ông S không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.
- Về con chung: Có 02 con chung là Võ Hoàng Đ1, sinh năm 1983 và Võ Hoàng L1, sinh năm 1987, các con đã trưởng thành nên Toà án không xem xét.
- Về tài sản chung:
3.1. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của ông Võ Hữu S đối với các yêu cầu: chia số tiền bán đất thửa số 601, tờ 4, ở xã L, huyện B với số tiền là 135.000.000 đồng; yêu cầu chia 120 chỉ vàng 24k và yêu cầu chia ½ giá trị cây trồng trên 05 thửa đất.
3.2 Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Võ Hữu S cụ thể:
* Chia bằng hiện vật phần đất và tài sản trên đất thửa đất số 71, tờ bản đồ số 17 có diện tích 5.715m² và thửa số 209, tờ bản đồ số 17 có diện tích 2.038,4m² cùa tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Ông S được nhận ½ diện tích đất thuộc thửa 71, tờ bản đồ số 17 là 2.876,2m². Trong đó có 150m² đất ở nông thôn và căn nhà trên đất, kết cấu như sau: nhà chữ đinh và các công trình trên đất ông S yêu cầu được nhận thuộc thửa 71 tờ 17 gồm các (thửa 71-3 một phần nhà gạch có diện tích 14,7m²); (thửa 71-4 một phần nhà tạm có diện tích có diện tích 4,0m²); (thửa 71 – 6 một phần nhà gạch có diện tích 145,7m²); (thửa 71-7 là nhà tắm có diện tích 4,1m²); (thửa 71-8 một phần nhà tạm có diện tích là 31,0m²); (thửa 71-9 là đất diện tích 2.676,7m²). Đất có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp giáp phần đất còn lại của bà N.
- Hướng Tây giáp đất Nguyễn Thành T2.
- Hướng Nam giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
- Hướng Bắc giáp đường xã.
- Phần đất 71 tờ bản đồ số 17, còn lại bà Phùng Thị N tiếp tục quản lý sử dụng trên phần này có nhà của anh Võ Hoàng Đ1 đất có diện tích 2.838,9m². Trong đó có 150m² đất ở nông thôn gồm: các thửa 71-1 là nhà gạch có diện tích 98,1m²; thửa 71-2 là nhà tiền chế có diện tích 21,3m²; thửa số 71-5 là đất có diện tích 2.719,5m². Đất có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất bà Lê Thị Q.
- Hướng Tây phần đất của ông S được nhận.
- Hướng Nam giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
- Hướng Bắc giáp đường xã.
(Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Buộc ông Võ Hữu S phải hoàn ½ giá trị căn nhà trên thửa 71 cho bà Phùng Thị N số tiền là 165.230.000 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu hai trăm ba chục ngàn đồng).
Ghi nhận các bên đương sự không yêu cầu gì đối với căn nhà của anh Võ Hoàng Đ1 trên thửa 71, tờ bản đồ số 17.
- Thửa đất số 209, tờ bản đồ số 17, có diện tích 2.038.4 m². Ông Võ Hữu S được nhận ½ diện tích là 1.019,3 m². Đất ông S nhận có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp đất còn lại của bà Phùng Thị N.
- Hướng Tây giáp đất ông Nguyễn Thành T2.
- Hướng Nam giáp thửa đất số 122.
- Hướng Bắc giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
- Phần đất thửa số 209, tờ số 17 còn lại bà Phùng Thị N được tiếp tục quản lý sử dụng ½ diện tích là 1.019,1m². Đất có thực trạng như sau:
- Hướng Đông giáp đất ông Phan Văn Đ2.
- Hướng Tây giáp phần đất của ông S được nhận.
- Hướng Nam giáp thửa đất số 122.
- Hướng Bắc giáp đất anh Võ Hoàng Đ1.
(Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
Các bên đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 71 và thửa 209, tờ bản đồ số 17, theo qui định (có bản vẽ kèm theo).
* Đối với các thửa đất được chia bằng giá trị:
- Bà Phùng Thị N được tiếp tục quản lý sử dụng các thửa đất thửa đất số thửa đất số 122, tờ số 17, diện tích 1.153,8m²; thửa đất số 210, tờ số 17, diện tích 2.975,9m²; thửa đất số 254, tờ số 17, diện tích 1.000m2 cùng tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- Buộc bà Phùng Thị N phải bồi hoàn công sức cho ông S nhận. Cụ thể:
- + Thửa đất số 122 tờ 17 có tổng giá trị là 532.470.000 đồng x 40% = ông S được nhận do bà N giao lại với số tiền là 212.988.000 đồng.
- + Thửa đất số 254, tờ số 17 có tổng giá trị là 479.200.000 đồng x 40% = ông S được nhận do bà N giao lại với số tiền là 191.200.000 đồng.
- + Thửa đất số 210, tờ số 17, có tồng giá trị là 1.342.160.000 đồng x 40% = ông S được nhận do bà N giao lại với số tiền là 536.864.000 đồng.
Tổng số tiền buộc bà Phùng Thị N phải bồi hoàn công sức cho ông Võ Hữu S là 941.051.000 (Chín trăm bốn mươi mốt triệu không trăm năm mươi mốt nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3.3. Bà Lê Thị Q, ông Phạm Văn B, ông Võ Hoàng T1, ông Phan Văn Đ2, ông Nguyễn Thành T2 với ông S, bà N thống nhất sẽ lấy lại ranh theo hồ sơ địa chính, không yêu cầu giải quyết về ranh nên được ghi nhận.
3.4. Ghi nhận anh Võ Hoàng Đ1 cho ông S, bà N đi nhờ qua phần đất thuộc thửa số 208, tờ 17 để ông S, bà N đi vào các phần đất nằm ở bên trong phần đất của anh Đ1 để ông bà thăm vườn, lối đi có diện tích ngang 1,5m, dài từ đầu đất thửa số 208, tờ 17 đến cuối thửa đất số 208, tờ số 17.
3.5. Ông Võ Hữu S đang quản lý sử dụng 03 bồn nhựa 2.000 lít hiệu SONHA, 02 hồ nước bồn xi măng tròn 3m³ bà Phùng Thị N không yêu cầu chia nên không xét đến.
- Về nợ chung: Bà N và ông S cùng khai không có, nên không xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền mà bà N đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001262 ngày 17 tháng 02 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà N đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
6.1. Bà Phùng Thị N phải chịu là: 112.351.000 (Một trăm mười hai triệu ba trăm năm mươi mốt ngàn đồng) nhưng bà N là người cao tuổi nên bà N được miễn.
6.2. Ông Võ Hữu S phải chịu là 112.010.000 đồng (Một trăm mười hai triệu không trăm mười ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông S đã nộp là 10.148.000 (Mười triệu một trăm bốn mươi tám ngàn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0001419 ngày 17/02/2022 và số tiền 19.590.000 (Mười chín triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001551 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông S còn phải nộp tiếp số tiền án phí có giá ngạch là 82.272.000 đồng (T5 mươi hai triệu hai trăm bảy mươi hai ngàn đồng).
- Về chi phí tố tụng là: 26.205.000 (Hai mươi sáu triệu hai trăm lẻ năm ngàn đồng) ông S đã nộp và đã quyết toán xong. Bà N phải hoàn lại cho ông S ½ số tiền là 13.103.000 (Mười ba triệu một trăm lẻ ba ngàn đồng).
- Về án phí phúc thẩm: Bà Phùng Thị N phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Tuy nhiên bà N là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Hữu Lương | Phạm Văn Ngọt |
| Phạm Thị Thu Trang |
Bản án số 638/2024/HNGĐ - PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 638/2024/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về việc ly hôn, tranh chấp tài sản khi ly hôn
