|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 637/2023/HS-ST Ngày 22-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Chi;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 670/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 667/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Minh K, sinh năm: 1982 tại tỉnh Đồng Nai; cư trú tại: Tổ A, thôn B, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị N và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009 và con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 27/5/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung 07 năm tù. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 11/11/2007.
- - Ngày 28/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 16 tháng, được miễn chấp hành thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính ngày 29/7/2019.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 25/7/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh K là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 25/7/2023, K đi bộ đến đoạn đường Q, thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua 05 gói ma túy Heroin và 01 gói ma túy tổng hợp (đá) với giá 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) của một người phụ nữ khoảng 60 tuổi (chưa rõ nhân thân lai lịch), với mục đích sử dụng. Sau khi mua ma túy, K cầm ma túy đi tìm nơi để sử dụng. Khi K đang cầm ma túy trong lòng bàn tay phải đi đến trước số nhà A, Quốc lộ E, thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an phường A kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh K đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
- Vật chứng thu giữ: 05 (năm) đoạn ống nhựa màu vàng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất màu trắng và 01 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Minh K, người chứng kiến và hình dấu mộc tròn của Công an phường A.
Tại Kết luận giám định số 1603/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận:
- - Mẫu chất màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,2078 gam, loại: Heroine.
- - Mẫu chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0454 gam, loại: Methamphetamine (bút lục số 06 - 08).
Tại Cáo trạng số: 643/CT-VKSBH ngày 27/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- + Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- + Xử lý vật chứng theo quy định.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi bị truy tố và tội danh:
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Minh K thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 25/7/2023, tại trước số nhà A, Quốc lộ E, thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Minh K đang có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói ma túy có khối lượng 0,2078 gam, loại: Heroine và 01 gói ma túy có khối lượng: 0,0454 gam, loại: Methamphetamine, thì bị lực lượng tuần tra Công an phường A bắt quả tang cùng tang vật và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
[3] Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- - Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức rõ được tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung 07 năm tù nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo K để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về vật chứng:
- - Đối với số ma túy còn lại sau giám định (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14175/QĐ-VKS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa ngày 07/11/2023) là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ nên căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho Nguyễn Minh K, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Minh K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
[6] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại Tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày 25 tháng 7 năm 2023.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 1603/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ. Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo Quyết định chuyển vật chứng số 14175/QĐ-VKS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phô Biên Hòa ngày 07/11/2023;
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nguyệt |
Bản án số 637/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 637/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
