Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 637/2025/DS-PT

Ngày: 19/12/2025

V/v “Công nhận lối đi chung

qua bất động sản liền kề”.

V

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Hương;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Thành Dương

Bà Phạm Thị Xuân Đào

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 388/2025/TLPT-DS ngày 29/10/2025 về việc: “Công nhận lối đi chung qua bất động sản liền kề”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 89/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 487/2025/QĐ-PT ngày 07/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 1060/2025/QĐ-PT ngày 24/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 1130/2025/QĐ-PT ngày 09/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1146/2025/QĐ-PT ngày 11/12/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc S, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Số A, tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1997 (theo văn bản ủy quyền ngày 09/12/2022).

Địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Như T – Công ty L3 – Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Bị đơn: Bà Nguyễn T1, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số B, đường T, phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường M).

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Danh S1, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số I, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắc Lắc (nay là phường B).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lê Thị Thu P – Công ty L4-O – Đoàn Luật sư Thành phố H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Lam H1
  2. Cháu Nguyễn Quốc K
  3. Cháu Nguyễn Quốc K1

(Ông Nguyễn Quốc S, bà Lê Thị Lam H1 đại diện hợp pháp của cháu K, K1)

Cùng địa chỉ: Số A, tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Trần Anh T2, sinh năm 1993
  2. Bà Lê Thị T3
  3. Cháu Trần Anh K2 (Ông Trần Anh T4 và bà Lê Thị T3 là đại diện hợp pháp của cháu K2)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Lê Đình T5, sinh năm 1986
  2. Bà Hoàng Thị T6
  3. Cháu Lê Thiên A (Ông Lê Đình T5 và bà Hoàng Thị T6 đại diện hợp pháp của cháu A)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Nguyễn Bá M, sinh năm 1982
  2. Bà Lê Thị L
  3. Cháu Nguyễn Thị H2
  4. Cháu Nguyễn Bá T7

(Ông Nguyễn Bá M và bà Trần Thị G đại diện hợp pháp của cháu H2 và T7)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Mai Văn H3, sinh năm 1989
  2. Bà Trần Thị G
  3. Cháu Mai Trần Gia B
  4. Cháu M1 Trần Tiến Đ

(Ông Mai Văn H3 và bà Trần Thị G đại diện hợp pháp của cháu B và Đ)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Đậu Đình T8, sinh năm 1988
  2. Cháu Đậu Đình Q (Ông Đậu Đình T8 đại diện hợp pháp của cháu Q)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Đặng Hữu H4, sinh năm 1981
  2. Cháu Đăng Lê Quỳnh N (Ông Đặng Hữu H4 đại diện hợp pháp của cháu N)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Ngô Văn A1, sinh năm 1986
  2. Bà Nguyễn Thị C
  3. Cháu Ngô Ngọc L1
  4. Cháu Ngô Ngọc Á
  5. Cháu Ngô Nguyễn Ngọc B1

(Ông Ngô Văn A1 và bà Nguyễn Thị C đại diện hợp pháp của cháu L1, B1 và Á)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Bà Lê Thị Hồng T9, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Bà Phạm Thị H5, sinh năm 1989
  2. Cháu Hồ Minh C1 (Bà H5 đại diện theo pháp luật của cháu C1)

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

  1. Ông Đỗ Văn H6, sinh năm 1991
  2. Bà Nguyễn Thị Y
  3. Cháu Đỗ Ngọc Q1 (Ông Đỗ Văn H7 và bà Nguyễn Thị Y đại diện hợp pháp của cháu Q1).

Cùng địa chỉ: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T).

(Bà H, ông S1, Luật sư P có mặt; Luật sư T4 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc S và bà Nguyễn Thị Thanh H là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nguồn gốc thửa đất tranh chấp và con đường đi chung của cụ Nguyễn Đăng Đ1 và cụ Nguyễn Thị E là cha mẹ của ông Nguyễn Quốc S, Nguyễn Đăng Q2 và bà Nguyễn Thị H8. Ngày 14/9/1999, cụ Nguyễn Đăng Đ1 được UBND huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: O 909456, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 001236 QSDD/652/QĐ.CT.UBH, cấp cho thửa đất số 196, tờ bản đồ số 08, xã T (nay thuộc phường T, thành phố B). Diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.375 m². Năm 2003, cụ E chết, đến năm 2007 cụ Đ1 cùng các con bàn bạc chia nhỏ thửa đất thành 04 thửa nhỏ (ký hiệu từ lô số 01 đến lô số 04) và chừa ra một con đường ngang 03m chạy dài từ lô số 01 đến hết lô số 04. Năm 2013, cụ Đ1 làm thủ tục chia thửa đất nêu trên thành nhiều thửa nhỏ để tặng cho các con, gồm 04 thửa như sau:

  • Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59, phường T, có diện tích khoảng 1.400 m². Tặng cho bà Nguyễn Thị H8.
  • Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 59, phường T, có diện tích là: 719 m². Tặng cho ông Nguyễn Đăng Q2 và bà Lê Thị S2. Năm 2018 ông Q2, bà S2 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Quốc S.
  • Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 59, phường T, có diện tích là 608 m². Tặng cho ông Nguyễn Quốc S.
  • Thửa đất số 52, tờ bản đồ số 59, phường T, có diện tích là 993 m². Thửa đất này đứng tên cụ Đ1, năm 2022 cụ Đ1 tặng cho lại để lại ông S và ông Q2. Sau đó ông Q2 chuyển nhượng toàn bộ lại cho ông S.

Việc tách thửa phân chia đất cho con cũng đã được chính cụ Đ1 lập bằng văn bản ngày 08/5/2007. Khi tách thửa đất này, cụ Đ1 đã trừ 01 con đường có chiều rộng là 3m, chiều dài con đường tiếp giáp với đường giao thông cho đến hết đất chia cho bà H8, có diện tích khoảng hơn 400 m². Việc xác nhận trừ phần diện tích đất để làm con đường đi chung cũng được cụ Đ1 lập Văn bản cam kết đã được Văn phòng C3 chứng thực, số chứng thực: 0671, quyển số 01/2022 – SCT/CK, ĐC ngày 07/11/2022.

Năm 2012, thực hiện việc tách thửa Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nay là Văn phòng đăng ký đất đai) thuộc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ đã cập nhật con đường đi chung có chiều rộng 3m trên vào phần đất của thửa đất số: 55, tờ bản đồ số: 59, phường T. Tuy nhiên, đó là trái với ý chí và nguyện vọng của cụ Đ1, vì cụ Đ1 muốn trừ phần đất này làm con đường đi chung chứ không muốn cập nhật phần đất này vào riêng cho bất kỳ thửa đất nào khác. Đồng thời, lúc còn sống bà H8 cũng biết và thừa nhận đó là đường đi chung mặc dù trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cập nhật vào thửa đất số 55, tờ: 59.

Từ trước đến nay, lối đinày hiện hữu, đổ bê tông và được sử dụng ổn định, không tranh chấp, trên lối đi này đã có hệ thống nước máy, điện hạ thế của Công ty Điện lực và là lối đi chung duy nhất của khoảng 15 hộ gia đình, được thể hiện trên bản đồ địa chính của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.

Tuy nhiên, tháng 09/2022, sau khi bà Nguyễn Thị H8 mất, bà Nguyễn T1 đã thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H8 đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59, phường T. Hiện nay, bà Nguyễn T1 đang tiến hành làm thủ tục chuyển quyền, sang tên đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59, phường T tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B.

Bà Nguyễn T1 hiện đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, không trực tiếp sinh sống trên đất. Sau khi bà T1 tiếp quản thửa đất trên thì đã rào lại con đường đi chung, nếu ai muốn sử dụng con đường đó thì phải trả tiền cho bà T1 rồi mới được đi qua.

Ngoài lối đi chung 3m nêu trên thì thửa đất số 55, thửa đất số 54, thửa đất số 53 tớ bản đồ số 59 cùng với khoảng 15 hộ gia đình khác không có bất kỳ một lối đi nào khác. Việc bà Nguyễn T1 cho rằng con đường 3m đó được cập nhật vào thửa số: 55, tờ: 59 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BM 763935 thì là thuộc quyền sở hữu của bà T1 là không đúng. Vì, không đúng với ý nguyện của cụ Đ1 (chủ đất cũ). Bởi, trên thực tế đây là con đường đi chung duy nhất của nhiều hộ gia đình và không thuộc quyền sử dụng của riêng ai. Đồng thời, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 52; 54, tờ bản đồ số 59 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/7/2018 cho ông S cũng thể hiện nội dung con đường 3m nêu trên là “Đường giao thông” trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu những nội dung sau:

  1. Công nhận lối đi chung khoảng 400m². Sau khi có kết quả Bản đồ hiện trạng khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B2 nên nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện là buộc bà Tài công N1 lối đi chung là 352,6m² được giới hạn bởi các điểm (22,23,24,6,7,25,26,27,28,29, 30,22).
  2. Yêu cầu hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 763935 cấp ngày 01/7/2013 cho bà Nguyễn Thị H8. Tại phiên tòa nguyên đơn xin rút đối với yêu cầu này.

Đối với trích lục biên vẽ số 6869/2023 ngày 13/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B2 và chứng thư thẩm định giá số 24020511/CT-ĐNI ngày 05/02/2024 của Công ty cổ phần T11 nguyên đơn không có ý kiến gì.

Ngoài ra, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.

Về án phí, chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại các bản tự khai bị đơn bà Nguyễn T1 và tại phiên tòa ông Nguyễn Danh S1 là đại diện theo ủy quyền cho bị đơn trình bày:

Thừa số 196, tờ số 8 theo hệ thống BĐĐC cũ, có diện tích 3375m² do cụ Nguyễn Đăng Đ1 sử dụng, đã được UBND huyện L cấp GCN QSDĐ số O 909456 ngày 14/09/1999. Năm 2006, cụ Nguyễn Thị E chết (vợ cụ Đ1), cụ Đ1 được nhận thừa kế trọn diện tích đất theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế số 2719 quyền số 03TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C, thành phố B, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 11/09/2012.

Theo hệ thống bản đồ địa chính mới thuộc xã T (nay là phường T) thì thửa 196, tờ bản đồ 8 được tách thành 4 thửa thửa số 52, 53, 54, 55, tờ bản đồ 59. Tháng 01/2013, cụ Đ1 thực hiện thủ tục nhận thừa kế và được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:

  • Thửa đất số 52, tờ bản đồ số 59 được cấp Giấy chứng nhận số BM763936 ngày 01/02/2013.
  • Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 59 được cấp Giấy chứng nhận số BM763937 ngày 01/02/2013.
  • Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 59 được cấp Giấy chứng nhận số BM763938 ngày 01/02/2013.
  • Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59 được cấp Giấy chứng nhận số BM763935 ngày 01/02/2013.

Tháng 03/2013, cụ Đ1 tặng cho thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59 cho bà Nguyễn Thị H8 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 805, quyền số 01TP/CC-SCC/HĐG dược Văn phòng Công chứng Long Biên tỉnh Đ công chứng ngày 22/3/2013 và được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai cập nhật, chỉnh lý biến động trên trang tư Giấy chứng nhận ngày 01/07/2013. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 763935 cấp ngày 01/02/2013 do cụ Nguyễn Đăng Đ1 đứng tên sau đó được cập nhật chỉnh lý cho bà Nguyễn Thị H8 quản lý sử dụng ngày 01/07/2013. Sau khi bà H8 chết, bà Nguyễn T1 được hưởng trọn quyền thừa kế là quyền sử dụng thửa đất số 55 tờ bản đồ số 59 diện tích 1809m² phường T theo văn bản khai nhận văn bản thừa kế được Văn Phòng C4 chứng nhận số 10327 quyền số 07/2022/TP/CC/HĐGD ngày 27/09/2022. Tuy nhiên, đến ngày 10/12/2022, bà T1 nộp hồ sơ xin đăng ký biến động tại Văn phòng Đ - Chi nhánh B2 thì không thực hiện được vì ông Nguyễn Quốc S nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà lý do đất có tranh chấp nên quyền sử dụng đất vẫn chưa thuộc quyền sở hữu của bà T1. Nay ông S khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận 400m2 và hủy một phần giái chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất trên thì bà T1 không đồng ý. Vì phần đất 400m² không phải là lối đi chung, mà thuộc quyền sử dụng đất Bà Nguyễn Thị H8. Bà T1 không có yêu cầu phản tố.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do bà Nguyễn Thị Thanh H là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc S khởi kiện bà Nguyễn T1 về tranh chấp quyền sử dụng đất về lối đi và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật. Đồng thời không có yêu cầu độc lập.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Anh T2, bà Trần Thị L2, ông Lê Đình T5, ông Lê Văn C2, ông Nguyễn Bá M, ông Mai Văn H3, ông Đậu Đình T10, ông Đặng Hữu H9, ông Ngô Văn A1, bà Lê Thị Hồng T9, bà Phạm Thị H5, ông Đỗ Văn H6 và gia đình ông Trần Anh T2, bà Trần Thị L2, ông Lê Đình T5, ông Lê Văn C2, ông Nguyễn Bá D bà Nguyễn Thị Thanh H đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc S yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:

“1. Công nhận phần quyền sử dụng đất có diện tích khoảng 400 m² thuộc một phần thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là con đường đi chung.

2. Yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BM 763935, cấp ngày 01/02/2013 cho bà Nguyễn Thị H8.”

Các ông bà đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc S. Bởi vì, ngoài lối đi chung đang hiện hữu đi qua một phần thửa đất số: 55, tờ bản đồ số: 59, phường T nêu trên ra thì gia đình các ông bà không còn lối đi nào khác để ra đường chính. Các ông bà không có yêu cầu độc lập.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở tài nguyên và Nông nghiệp trường tỉnh Đ trình bày: Về quy trình cấp đất thì Sở cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

- Người làm chứng ông Nguyễn Đăng Q2 trình bày:

Về nguồn gốc đất:

Ngày 14/9/1999, cha ông là cụNguyễn Đăng Đàn được UBND huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: O 909456, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 001236 QSDD/652/QĐ.CT.UBH, cấp cho thửa đất số 196, tờ bản đồ số 08, xã T (nay thuộc phường T, thành phố B). Diện tích đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.375 m².

Đến năm 2007, cụ Đ1 làm thủ tục cắt thửa đất nêu trên để tặng cho các con, gồm 04 thửa như sau:

  • Thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59, phường T, có diện tích khoảng 1.400 m². Thửa đất này cụ Đ1 tách thửa và tặng cho chị gái là bà Nguyễn Thị H8.
  • Thửa đất số 54, tờ bản đồ số 59, phường T, có diện tích là: 719m². Thửa đất này cụ Đ1 tách thửa và tặng cho ông và vợ là bà Lê Thị S2.

Quá trình sử dụng con đường:

Việc trừ con đường có chiều rộng khoảng 3m trong gia đình ông mọi người đều biết và thống nhất, nên ngày 08/5/2007, cụ Đ1 (cha ông) trước khi thực hiện thủ tục tách thửa đất đã cùng với 3 anh em thống nhất và lập văn bản thể hiện ý chí là chừa một con đường ngang 3m nêu trên để làm đường đi chung, con đường đó không phải là con đường của riêng ai. Đồng thời, lúc còn sống chị gái ông bà H8 cũng thừa nhận đó là đường đi chung mặc dù trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cập nhật vào thửa đất số 55, tờ: 59.

Trước khi 4 cha con ngồi lại thống nhất, phân chia vị trí từng thửa đất thì con đường đã được hiện hữu, sử dụng từ trước. Năm 2013, do đi lại khó khăn vào mùa mưa nên em trai ông là ông Nguyễn Quốc S đã đổ đường bê tông từ thửa đất số 53, tờ 59 ra đường lớn để đi lại. Năm 2017, ông Nguyễn Quốc S đổ toàn bộ đường bê tông từ hết đất thửa đất số 54, tờ bản đồ số 59 ra đường đi lớn. Những lần sử dụng, đổ bê tông, cụ Đ1, bà H8 đều không ai có ý kiến, thắc mắc gì. Từ trước đến nay, con đường hiện hữu này được sử dụng ổn định, không tranh chấp và trên con đường này đã có hệ thống nước máy, điện hạ thế của Công ty Đ2 và là lối đi chung của những hộ gia đình xung quanh.

Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Do công việc bận rộn nên cha ông cùng các chị em không để tâm việc con đường đi chung đã được cơ quan nhà nước cấp vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cá nhân ai hay như nào.

Nhưng trên thực tế bản thân ông cùng với cụ Nguyễn Đăng Đ1, bà Nguyễn Thị H8, ông Nguyễn Quốc S đều biết và thừa nhận con đường hiện hữu là con đường đi chung của các thửa đất do bốn cha con hiện đứng tên.

Nay nguyên đơn ông Nguyễn Quốc S khởi kiện buộc bị đơn công nhận phần diện tích đất ngang 03 m, dài từ thửa đất 54 tờ bản đồ số 59 chạy dài đến đường giao thông và Yêu cầu hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 763935 cấp ngày 01/7/2013 cho bà Nguyễn Thị H8 thì ông đồng ý. Ông không còn liên quan gì đến các thửa đất đang tranh chấp trên. Do ở xa, điều kiện đi lại khó khăn đề nghị Tòa án cho ông được vắng mặt tại các buổi làm việc, đối chất, xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ, thẩm định giá; phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu quan điểm tranh luận:

· Ngoài lối đi này ra nhà, đất của ông S thuộc thửa đất số 53, 54, tờ bản đồ số 59, phường T không còn lối đi nào khác để ra đường công cộng. Đồng thời, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng dất thuộc thửa đất số 52, 54, tờ bản đồ số 59 đều thể hiện còn con đường giao thông cũng như tại Vi bằng số 75/2022/VB-TPLLT ngày 24/11/2022 của Văn phòng T12 cụ Đ1 thể hiện ý chí nguồn gốc của các thửa đất đang tranh chấp trên là của cụ Đ1 và cụ E, năm 2007 cụ cùng 03 người con thống nhất tách ra thành 04 thửa nhỏ (ký hiệu từ lô số 1 đến lô số 4, tương ứng các thửa đất từ thửa số 52 đến thửa số 55, tờ bản đồ số 59, phường T) và chừa ra diện tích ngang 3m dài từ thửa đất 52 xuống thửa đất đất số 55, tờ bản đồ số 59 để làm đường.

Theo quy định của tại Điều 254 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ông Nguyễn Quốc S yêu cầu công nhận lối đi chung qua bất động sản của bà T1 là có căn cứ. Vì nguồn gốc của lối đi này đã được hình thành trước và là đất của gia đình nên khi bà T1 được hưởng thừa kế của bà H8 nên nguồn gốc đất lối đi chung là đất của gia đình nên ông S không có trách nhiệm thanh toán đối với khoản tiền chênh lệch cho bà T1.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu quan điểm tranh luận:

Thứ nhất: Việc cụ Đ1 khẳng định thửa 54, tờ 59 thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị H8 là không đúng. Bà H8 có quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59). Thông tin nội dung văn bản và video kèm theo Vi bằng khẳng định nội dung này đúng với lời nói của ông S và ông Đ1 trao đổi. Sự nhầm lẫn này thể hiện việc thông tin đưa ra thiếu chính xác. Cũng như đặt ra một vấn đề tình trạng sức khỏe của ông Đ1 thời điểm lập vi bằng cũng như bản cam kết cụ Đ1 có được tỉnh táo, minh mẫn hay không? Cụ Đàn và ông S tham gia lập vi bằng, cụ Đ1 và ông S cam kết tự chịu trách nhiệm về tính xác thực đối với những gì đã trình bày và các văn bản giấy tờ liên quan và không yêu cầu Thừa phát lại kiểm tra xác minh.

+ Nội dung Giấy phân chia từng lô đất vườn lập ngày 08/5/2007 chỉ có ý chí và quyết định của một mình cụ Nguyễn Đăng Đ1. Trong khi đó, cụ Nguyễn Thị E (vợ của cụ Nguyễn Đăng Đ1) mất năm 2006 có Di sản thừa kế là 1/2 diện tích đất tọa lạc tại xã T, huyện L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 909456 vào sổ cấp giấy chứng nhận số 001236 QSD/652/QĐCT.UBH do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 14/9/1999, nay là thửa số 196, số tờ bản đồ số 08, có tổng diện tích là 3375 m² theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 11/09/2012 thể hiện. Như vậy, tại thời điểm năm 2007 thì ông Nguyễn Đăng Đ1 chỉ được quyền tự định đoạt đối với 1/2 quyền sử dụng đất còn lại trên tổng diện tích 3375 m², chứ không được toàn quyền định đoạt đối với toàn bộ thửa đất nêu trên. Việc cụ Đ1 tự quyết định đối với toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên là không hợp pháp.

Đối với những người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan mà Tòa án đưa vào tham gia tố tụng thì những cá nhân này có mối quan hệ như thế nào với nguyên đơn? những mối quan hệ này có đảm bảo khách quan trong quá trình giải quyết vụ án không? trong khi toàn bộ lời khai của các cá nhân đều theo một mô tip của nguyên đơn đã trình bày tại đơn khởi kiện. Tại thời điểm xảy ra tranh chấp, các cá nhân trên đã ở đâu và làm gì tại từ thời điểm gia đình cụ Đ1 sinh sống, các cá nhân nêu trên có là người chứng kiến toàn bộ quá trình gia đình cụ Đ1 sử dụng đất hay không. Thời điểm nào những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đến tại thửa đất đang tranh chấp? Do đó, những nội dung tại bản tự khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có khách quan hay không và sự việc có đúng sự thật hay không thì chưa rõ. Từ những nội dung nêu trên, kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tư cách tham gia của những cá nhân nêu trên dựa trên những tài liệu chứng cứ hợp pháp, nếu việc tham gia của những cá nhân nêu trên không có liên quan gì trong vụ án thì không đưa họ vào tham gia tố tụng.

Thứ hai, bà Nguyễn Thị H8 đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 763935 ngày 01/02/2013, diện tích 1.809m² (trong đóđất ở tại nông thôn: 70m² và đất trồng cây lâu năm 1.739m²) đối với thửa đất số 55 tờ bản đồ số 59 phường T, B, Đồng Nai là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Tháng 03/2013, cụĐàn tặng cho trọn diện tích thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị H8 theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Văn phòng công chứng Long Biên tỉnh Đ công chứng ngày 22/3/2013. Căn cứ Điều 106 Luật Đất đai năm 2003, căn cứ Điều 23 Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 và Điều 4 Thông tư số 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ T13; ngày 01/7/2013 Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ đã cập nhật biến động chủ sử dụng mới là bà Nguyễn Thị H8 tại trang 04 của giấy chứng nhận số BM 763935 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.”

Thứ ba, bà Nguyễn Thị H8 được tặng cho toàn quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59 tại T, B, Đồng Nai. Căn cứ nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 763935, số vào sổ cấp GCN: CH05201 đứng tên ông Nguyễn Đăng Đ1 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 01/02/2013 và Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 22/03/2013 (Bút lục 287) thể hiện rõ, phần đất nằm giáp thửa 54, 53, 52 thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H8.

Căn cứ Quyết định số 4412/QĐ-VPĐK ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Văn phòng Đ, sau khi ông S được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 806884 cấp ngày 05/7/2018 đối với thửa đất số 54, tờ bản đồ chính số 59 phường T, B, Đồng Nai, thì trong giấy này thể hiện thửa đất có giáp đường giao thông. Tuy nhiên theo Thông báo số 501/TB-VPĐK ngày 31/01/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ về kiểm tra việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì nguồn gốc thửa đất trước đây của ông S không tiếp giáp đường giao thông;

Căn cứ Quyết định số 5573/QĐ-VPĐK ngày 12 tháng 8 năm 2023 của Văn phòng đăng ký đất đai, sau khi ông S và bà Lê Thị Lam H1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 080230 cấp ngày 11/10/2022 đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ chính số 59 phường T, B, Đồng Nai, thì trong Giấy chứng nhận thể hiện thửa đất tiếp giáp đường giao thông trong khi Giấy chứng nhận số BM 763936 cấp ngày 01/02/2013 đối với thửa đất số 52 không tiếp giáp đường giao thông theo Thông báo số 10702/TB-VPĐK ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ.

Chỉ khi bà Nguyễn T1 có đơn gửi đến Văn phòng đăng ký đai tỉnh Đồng Nai qua rà soát kiểm tra mới phát hiện việc hợp thức hóa quyền sử dụng đất của bà H8 thành lối đi hợp pháp cho ông S,

Từ những nội dung trên, kính đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thàn phố B, Đồng Nai xem xét và ra quyết định không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

Quyết định của Bản án sơ thẩm:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã áp dụng các Điều 166; Điều 170; Điều 179; Điều 202; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 260 của Luật Đất đai năm 2024.

Áp dụng Điều 245; Điều 254 của Bộ luật Dân sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc S. Công nhận con đường đi có diện tích là 352,6m² thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ 59, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các điểm (22, 23, 24, 6, 7, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 22) theo Bản đồ hiện trạng khu đất số: 6896/2023 ngày 13/12/2023 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B2 thực hiện, là lối đi chung và cấm mọi hành vi của bà Nguyễn T1 về việc cản trở ông Nguyễn Quốc S và những người đang đi lại trên lối đi chung này.

Nguyên đơn và bị đơn được quyền sử dụng lối đi chung như diện tích ở trên. Đương sự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin chỉnh lý biến động hoặc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BM 763935 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/02/2013 cho cụ Nguyễn Đăng Đ1, cập nhận biến động tặng cho bà Nguyễn Thị H8 ngày 01/7/2013.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/6/2025, ông Nguyễn Danh S1 đại diện theo ủy quyền của bị đơn kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Danh S1 thay đổi yêu cầu kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án để bên nguyên đơn phải thực hiện thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo đúng quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu quan điểm tranh luận tại phiên tòa:

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Công nhận lối đi chung qua bất động sản liền kề” là chưa đúng sự thật khách quan của vụ án. Bởi bà Nguyễn Thị H8 đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 763935 ngày 01/02/2013 hợp pháp đối với toàn bộ thửa đất 1.809m², bao gồm cả phần diện tích có hình dạng giống lối đi. Việc cấp và cập nhật sang tên cho bà H8 là đúng trình tự, thủ tục pháp luật; từ thời điểm đó bà H8 đã được xác lập đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo Luật Đất đai. Ngoài ra, còn có dấu hiệu ông S tự tạo lập hồ sơ để hợp thức hóa phần đất của bà H8 thành lối đi, dẫn đến việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này của ông S bị thu hồi, tuy nhiên trong Bản án sơ thẩm không đề cập đến cũng như chưa có biện pháp để xử lý đối với việc này. Các tài liệu, chứng cứ năm 2007 mà ông S cung cấp không hợp pháp và không đủ giá trị chứng minh việc ông Đ1 có gọi các con về cùng thống nhất thỏa thuận với các thành viên trong gia đình trong đó có bà Nguyễn Thị H8 liên quan đến việc chừa lối đi chung. Và đối với tranh chấp quyền sử dụng đất phải được hòa giải tại UBND xã trước khi khởi kiện tại Tòa án, Ông S chưa thực hiện thủ tục này nên chưa đủ điều kiện khởi kiện. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất của ông S bị vây bọc bởi các thửa đất liền kề là chưa chính xác và chưa có tài liệu, chứng cứ chứng minh và trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa đất của ông S tiếp giáp với đường đất kết nối ra bên ngoài.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Đăng Đ1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án kể từ thời điểm thụ lý ngày 09/01/2023, đến cuối năm 2023 ông Nguyễn Đăng Đ1 mới mất nhưng trong hồ sơ vụ án không có lời khai của ông Đ1, và Tòa án cấp sơ thẩm cũng không đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ1 vào tham gia tố tụng là không khách quan. Và việc Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai thụ lý yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn là vượt quá thẩm quyền, là vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục tố tụng dân sự.

Ngoài ra, về vấn đề vi bằng được lập năm 2022, tại thời điểm đó ông Đ1 đã 96 tuổi, trong video và văn bản chỉ có ông S trình bày vấn đề và nhắc đến thửa đất số 54 của ông S chứ không phải của bà H8. Vi bằng chỉ công nhận có sự kiện đó chứ không công chứng về vấn đề nội dung nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tài liệu này để xem ông Đ1 có thực sự minh mẫn và có thực sự tự nguyện hay không hay chỉ do những người con tác động đến.

Từ những nội dung trên, đề nghị xem xét lại toàn bộ nội dung của bản án cấp sơ thẩm và hủy toàn bộ bản án cấp sơ thẩm đã giải quyết, đồng thời đình chỉ giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật vì không xác định đúng quan hệ tranh chấp, không đủ điều kiện khởi kiện, thụ lý không đúng thẩm quyền và đánh giá chứng cứ không khách quan.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Danh S1 đại diện theo ủy quyền cho bà Nguyễn Tài . Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng và đầy đủ.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Danh S1 làm trong thời hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, nhận thấy:

Theo hồ sơ thể hiện:

Nguồn gốc của các thửa đất từ thửa số 52 đến thửa số 55, tờ bản đồ số 59 tách ra từ thửa đất 196, tờ bản đồ số 08 tại xã T, huyện L (nay là phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp cho ông (bà) Nguyễn Đăng Đ1 vào ngày 14/9/1999. Sau khi cụ Nguyễn Thị E chết, ngày 11/9/2012, cụ Đ1 và 03 người con là bà Nguyễn Thị H8, ông Nguyễn Đăng Q2 và ông Nguyễn Quốc S lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Theo đó, bà H8, ông Q2 và ông S đồng ý tặng cho toàn bộ kỷ phần mà họ được hưởng từ di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị E cho cụ Nguyễn Đăng Đ1. Năm 2013, cụ Đ1 tách thửa đất thửa đất 196, tờ bản đồ số 08 ra thành 04 thửa nhỏ (gồm thửa 52, 53, 54 và 55, tờ bản đồ số 59) do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/02/2013 cho cụ Nguyễn Đăng Đ1 cập nhận biến động tặng cho bà Nguyễn Thị H8 (thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59), ông Nguyễn Đăng Q2 (thửa đất số 54, tờ bản đồ số 59) và ông Nguyễn Quốc S (thửa đất số 53, tờ bản đồ số 59) vào ngày 07/7/2013.

Tại Giấy phân chia từng lô đất ngày 08/5/2007 (bút lục 28), cụ Đ1 thể hiện rõ ý chí là chừa ra một con đường rộng 3m từ lô số 1 đế lô số 4 và tại bản cam kết của cụ Đ1 được chứng thực chữ ký ngày 07/11/2022 do Văn phòng C3 chứng thực chữ ký của cụ Đ1. Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng xác nhận sau khi bà Nguyễn T1 được thừa kế lại quyền sử dụng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59 của bà H8 nên bà T1 đã rào lối đi này lại không cho những người sống trong khuôn viên các thửa đất trên ra vào nhưng họ vẫn cố tình dỡ rào để đi qua lại. Nguyên đơn xác nhận cha mẹ ông nhận chuyển nhượng lại diện tích đất này từ năm 1999, trên đất đã có 01 căn nhà nhỏ nằm giữa thửa đất nên đã hình thành một lối mòn để đi chuyển từ nhà ra đường công cộng và xuống phía sau làm vườn. Sau này gia đình ông đã cải tạo và xây dựng nhà nằm trên nền đất cũ của chủ cũ tương ứng với thửa đất số 53, tờ bản đồ số 59 và cha mẹ ông là cụ Đ1 và cụ E cùng chung sống với vợ con ông tại căn nhà này cho đến khi hai cụ chết. Như vậy, lối đi chung này nguồn gốc xuất phát từ đất của gia đình và nhà phải có lối đi ra đường công cộng. Thời điểm cụ Đ1 cập nhật biến động và phân chia lô đất đã cập nhật toàn bộ lối đi chung vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 763935 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/02/2013 cho cụ Nguyễn Đăng Đ1, cập nhật biến động tặng cho bà Nguyễn Thị H8 ngày 01/7/2013.

Như vậy, cụ Đ1 cùng với các con cũng đã thể hiện là trừ ra một con đường ngang 3m, dài từ thửa đất số 52 đến thửa đất số 55, tờ bản đồ số 59, nên ông S không phải đền bù cho bà Nguyễn Tài K3 tiền tương ứng nào là hợp lý.

Nguyên đơn yêu cầu công nhận lối đi chung là 352,6m² được giới hạn bởi các điểm (22,23,24,6,7,25,26,27,28,29,30,22) để phục vụ cho nhu cầu đi lại của các gia đình. Diện tích trên xét thấy phù hợp, vì con đường đã hình thành từ lâu và được làm bê tông cố định, có hệ thống điện nước đồng thời thửa đất số 55 tờ bản đồ số 59 cùng sử dụng là đường đi ra đường công cộng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông S1, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông Nguyễn Danh S1 không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Danh S1 là đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Tài . Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 89/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai.

Áp dụng các Điều 166; Điều 170; Điều 179; Điều 202; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 260 của Luật Đất đai năm 2024.

Áp dụng Điều 245; Điều 254 của Bộ luật Dân sự.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc S. Công nhận con đường đi có diện tích là 352,6m² thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ 59, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các điểm (22, 23, 24, 6, 7, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 22) theo Bản đồ hiện trạng khu đất số: 6896/2023 ngày 13/12/2023 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B2 thực hiện, là lối đi chung và cấm mọi hành vi của bà Nguyễn T1 về việc cản trở ông Nguyễn Quốc S và những người đang đi lại trên lối đi chung này.

Nguyên đơn và bị đơn được quyền sử dụng lối đi chung như diện tích ở trên. Đương sự liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục xin chỉnh lý biến động hoặc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BM 763935 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 01/02/2013 cho cụ Nguyễn Đăng Đ1, cập nhật biến động tặng cho bà Nguyễn Thị H8 ngày 01/7/2013.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định, đo vẽ và thẩm định giá: Nguyên đơn đã nộp đủ.
  3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bà Nguyễn T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007653 ngày 09/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

Trả lại cho ông Nguyễn Quốc S 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai) theo biên lai số 0005787 ngày 29/12/2022.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân KV1 – Đồng Nai;
  • - Phòng THADS KV1 – Đồng Nai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 637/2025/DS-PT ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về công nhận lối đi chung qua bất động sản liền kề

  • Số bản án: 637/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận lối đi chung qua bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận lối đi chung qua bất động sản liền kề
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger