TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 637/2023/HC-PT
Ngày 28 tháng 8 năm 2023
V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học
Các Thẩm phán: Ông Đặng Đình Lực
Ông Phạm Việt Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hành chính thụ lý số: 424/2023/TLPT-HC ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số: 80/2022/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 9426/2023/QĐ-PT ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự sau:
- Người khởi kiện: Ông Vũ Trọng T, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số 32/571 Nguyễn Văn L, quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng. (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Hoàng Ngh, nơi cư trú: Số 4/42/239 Lê L1, quận Ngô Q, thành phố Hải Phòng. (Có mặt).
- Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng; Địa chỉ: Số 18 Hoàng Diệu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Anh Q1, chức vụ: Phó Chủ tịch Thường trực UBND. (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
- Ông Phạm Văn Th - chức vụ: Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Phòng. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Trần Đức H - chức vụ: Trưởng phòng quản lý xử lý vi phạm hành chính và Theo dõi thực hiện pháp luật, Sở Tư pháp. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Xuân Ng; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt).
- Chủ tịch UBND quận Lê Chân và Ủy ban nhân dân quận Lê Chân
Địa chỉ trụ sở: Số 10 Hồ Sen, phường Trại Cau, quận Lê Ch, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân Ng, chức vụ: Phó Chủ tịch thường trực UBND quận Lê Chân. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Ông Nguyễn Đình Th1 Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường UBND quận Lê Chân. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Trần V - Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường UBND quận Lê Chân. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc Q2 - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND quận Lê Chân. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Trọng C; nơi cư trú: Số 33/89 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, quận Lê Ch, Hải Phòng. (Vắng mặt).
- Bà Vũ Thị H1; nơi cư trú: Số 22/61/52 Miếu Hai Xã, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Ch, Hải Phòng. (Có mặt).
- Bà Vũ Thị S; nơi cư trú: Số 32/13 Hoàng Diệu, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, Hải Phòng. (Có mặt).
- Bà Vũ Thị H2; nơi cư trú: Số 31/89 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, quận Lê Ch, Hải Phòng. (Có mặt).
- Bà Vũ Thị X; nơi cư trú: Số 29/185 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, quận Lê Ch, Hải Phòng. (Có mặt).
- Bà Vũ Thị Đ; nơi cư trú: Số 28/89 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, quận Lê Ch, Hải Phòng. (Có mặt).
- Bà Lê Thị Hồng M; nơi cư trú: Số 31/89 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, quận Lê Ch, Hải Phòng. (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Ngh; nơi cư trú: Số 4/42/239 Lê Lợi, quận Ngô Quyền Hải Phòng. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại các đơn khởi kiện đề ngày 18/12/2021, 20/12/2021 và đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 23/3/2022, người khởi kiện là ông Vũ Trọng T trình bày:
Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) quận Lê Chân tiến hành thu hồi đất để thực hiện dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương, quận Lê Chân đối với gia đình ông Vũ Trọng V1. Theo nội dung Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương, quận Lê Chân của Ủy ban nhân dân quận Lê Chân và Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương, quận Lê Chân (đợt 4 - 06 hộ, bổ sung nhân khẩu và vật kiến trúc 03 hộ). Không đồng ý với nội dung của Quyết định số 981/QĐ-UBND, gia đình ông T đã khiếu nại lên Chủ tịch UBND quận Lê Chân, sau khi nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, gia đình ông tiếp tục khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng.
Theo ông T, toàn bộ diện tích đất bị thu hồi của gia đình ông để phục vụ dự án Hoàng Huy Commerce tại Tổ 10, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, Hải Phòng có nguồn gốc là do bố mẹ đẻ ông T (cụ Vũ Trọng V1, sinh năm 1927 - mất năm 2011; cụ Đặng Thị Diễn, sinh năm 1927 - mất năm 2022) khai hoang từ trước năm 1960; thời điểm đó các cụ không có giấy tờ gì về việc sử dụng và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toàn bộ diện tích đất là đất nông nghiệp, được gia đình sử dụng để thả ao cá, chăn nuôi trồng trọt. Từ năm 1979 gia đình vẫn nộp thuế đều đặn hàng năm, người nộp là cụ V1; sau khi cụ mất thì ông T là người nộp thuế. Trên đất có 04 hộ thường xuyên sinh sống gồm các hộ ông bà H1, Đ, X, M. Các hộ này trồng trọt làm nguồn thu nhập chính. Trên tổng diện tích 2103m², có 04 căn nhà cấp bốn của bốn hộ trên xây dựng trên diện tích 367m²; phần diện tích còn lại các hộ đều sử dụng để canh tác. Việc phân chia đất cho các hộ, gia đình tự phân chia từ thời các cụ còn sống, có ranh giới giữa các hộ. Đối với hộ ông C, ông T, bà H2 và bà S đều được các cụ để lại một phần đất nhưng những hộ này đều không ở trên đất mà chỉ sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi; đây cũng là nguồn thu nhập chính của các hộ. Theo gia đình tự phân chia:
- Ông C sử dụng diện tích khoảng 10 thước (khoảng 200m²); gia đình ông hiện nay sinh sống tại Trại Lẻ; diện tích đất này ông sử dụng để canh tác rau theo mùa, không trồng cây ăn quả lâu năm. Vợ chồng ông C là người trực tiếp canh tác từ thời bố mẹ ông còn sống.
- Hộ ông T được sử dụng diện tích bao nhiêu hiện ông không nhớ cụ thể; gia đình ông hiện không sinh sống trên đất nhưng có trồng trọt, chăn nuôi trên đất; đây cũng là nguồn thu nhập chính.
- Hộ bà H1 sử dụng 106m². Bà ở trên đất từ nhỏ, lao động, chăn nuôi, trồng trọt trên đất. Sau khi Nhà nước thu hồi, bà chuyển đi nơi khác.
- Hộ bà Đ sử dụng 195m². Bà Đ sinh sống trên đất từ khi còn nhỏ, sau khi lập gia đình bà vẫn tiếp tục ở tại đây. Đến khi Nhà nước thu hồi, bà cùng gia đình mới chuyển đi nơi khác.
- Hộ bà X sử dụng 112m². Bà X sinh sống ở đây từ nhỏ, gia đình bà chủ yếu trồng trọt, chăn nuôi; đây cũng là nguồn thu nhập chính. Năm 2019, khi Nhà nước thu hồi đất, gia đình bà chuyển di.
- Chị M là cháu ngoại của bà Vũ Thị Đ. Gia đình chị sử dụng đất do ông bà ngoại tách cho một phần với diện tích 7m² từ năm 2010. Việc ông bà Đ tách đất cho chị M, gia đình đều đồng ý và không có ý kiến gì. Ba mẹ con chị M sinh sống trên phần đất được cho, có xây dựng nhà cấp bốn nhưng không có nhà vệ sinh riêng. Ngoài ra, chị M không được chia phần diện tích nào khác để trồng trọt, chăn nuôi.
Toàn bộ diện tích đất này gia đình ông sử dụng để trồng rau, không trồng lúa; gia đình ông chưa chuyển nhượng cho ai. Khi xây dựng nhà trên đất, gia đình ông không báo cũng như xin phép chính quyền địa phương tuy nhiên chính quyền địa phương cũng không có ý kiến gì. UBND xã quản lý và xác định đất của gia đình ông là đất 2 lúa, gia đình ông không đồng ý. Ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định:
- Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND quận Lê Chân; Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 của quận Lê Chân do bồi thường không đúng các quy định của Luật Đất đai và các Nghị định của Chính phủ; Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đối với gia đình ông Vũ Trọng V1 là không đúng quy định pháp luật.
Yêu cầu UBND quận Lê Chân xem xét, tính toán lại bồi thường theo quy định của pháp luật để 04 hộ gia đình H1, Đ, X, M được bồi thường 100% giá đất ở đô thị theo giá đất của UBND thành phố quy định (41.556.319 đ/m²), tổng diện tích là 378m²; tổng số tiền; 17.337.897.000 đồng; cụ thể:
- Bồi thường cho hộ bà Đ 162m² x 41.556.319 đ = 6.732.124.000 đồng;
- Bồi thường cho hộ chị M 7m² x 41.556.319 đ = 290.894.233 đồng;
- Bồi thường cho hộ bà X 112m² x 41.556.319 đ = 4.654.430.000 đồng;
- Bồi thường cho hộ bà H1 106m² x 41.556.319 đ = 4.404.970.000 đồng.
Bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ chị Lê Thị Hồng M theo quy định của pháp luật để giao 01 lô đất có thu tiền sử dụng đất.
Yêu cầu UBND quận Lê Chân hỗ trợ ổn định đời sống cho 04 hộ H1, Đ, M, X là 24 tháng và chi trả tiền san lấp, vật nền là 87.000.000 đồng cho toàn bộ gia đình; số tiền này gia đình sẽ tự phân chia.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng có quan điểm:
Ngày 19/12/2019, ông Vũ Trọng T khiếu nại đối với UBND quận Lê Chân về Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương, quận Lê Chân đối với gia đình ông Vũ Trọng V1 là không đúng với quy định pháp luật; khiếu nại phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư của UBND quận Lê Chân đối với hộ gia đình ông Vũ Trọng V1 khi Nhà nước thu hồi đất để thựa hiện Dựa án không đúng. Trong đó, khiếu nại phần diện tích thu hồi không đúng với diện tích thực tế gia đình đang sử dụng khi Nhà nước thu hồi (theo Quyết định thu hồi là 2.287,9m²).
Chủ tịch UBND quận Lê Chân đã thụ lý, xác minh nội dung khiếu nại và ban hành Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Vũ Trong T với nội dung giữ nguyên: Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án trên địa bàn phường Kênh Dương đối với hộ gia đình ông Vũ Trọng V1; Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án địa bàn phường Kênh Dương, phường Vĩnh Niệm trong đó có hộ gia đình ông Vũ Trọng V1.
Ngày 26/5/2020, ông Vũ Trọng T tiếp tục có đơn khiếu nại lần hai gửi Chủ tịch UBND thành phố. Trên cơ sở báo cáo kết quả xác minh, đề xuất của Thanh tra thành phố và kết quả đối thoại, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần hai của ông Vũ Trọng T, theo đó: Công nhận và giữ nguyên nôi dung Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 của Chủ tịch UBND quận Lê Chân về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Vũ Trọng T là đúng quy định pháp luật.
Về thẩm quyền ban hành quyết định: Căn cứ khoản 2 Điều 21 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định Chủ tịch UBND thành phố có quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của của Chủ tịch UBND cấp huyện. Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Chủ tịch UBND thành phố ban hành là đúng thẩm quyền.
Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Căn cứ vào các điều 36, 38, 39, 40, 41 Luật Khiếu nại năm 2011, việc ban hành Quyết định số 3695/QĐ-UBND là đúng trình tự, thủ tục.
Quan điểm của Chủ tịch UBND thành phố: Đề nghị Tòa án công nhận và giữ nguyên Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Chủ tịch UBND thành phố; bác yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Trọng T.
Người bị kiện là UBND quận Lê Chân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Lê Chân có quan điểm:
Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân: Thực hiện Văn bản số 5381/VP-DDC2 ngày 19/11/2018 của UBND thành phố về thu hồi đất, lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng lô đất CH12, CH13, N78 thuộc Khu đô thị Hồ Sen - Cầu Rào 2 để thực hiện dự án. Ngày 05/01/2019, UBND quận Lê Chân đã họp với các hộ gia đình có đất bị thu hồi và ban hành các các văn bản về việc thu hồi đất, thành lập tổ công tác kiểm kê, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng. Trên cơ sở nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của hộ gia đình ông Vũ Trọng V1, căn cứ các quy định của pháp luật và UBND thành phố về bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất, UBND quận Lê Chân đã ban hành Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án, trong đó có hộ gia đình ông Vũ Trọng V1 với tổng số tiền 2.047.319.257 đồng. Ngày 14/5/2019, UBND quận Lê Chân ban hành Quyết định số 987/QĐ-UBND về việc thu hồi 2.287,9m² đất để thực hiện Dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương, quận Lê Chân đối với hộ gia đình ông Vũ Trọng V1. Việc UBND quận Lê Chân ban hành Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 về việc Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện Dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.
Ngày 19/02/2020, ông Vũ Trọng T khiếu nại đối với UBND quận Lê Chân với nội dung: Khiếu nại Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương, quận Lê Chân đối với hộ gia đình ông Vũ Trong V1 là không đúng với quy định pháp luật. Khiếu nại phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND quận Lê Chân đối với hộ gia đình ông Vũ Trọng V1 khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án không đúng; trong đó khiếu nại phần diện tích thu hồi đất không đúng với diện tích thực tế gia đình đang sử dụng khi Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án. Chủ tịch UBND quận Lê Chân đã thực hiện việc thụ lý, xác minh nội dung khiếu nại và ban hành Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu với nội dung giữ nguyên Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân và Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân.
Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, ông T có đơn khiếu nại lần hai đề ngày 26/5/2020 gửi Chủ tịch UBND thành phố. Trên cơ sở báo cáo kết quả xác minh, đề xuất của Thanh tra thành phố và kết quả đối thoại, Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần hai của ông Vũ Trọng T, theo đó công nhận và giữ nguyên nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với ông Vũ Trọng T của UBND quận Lê Chân.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Trọng C, bà Vũ Thị H1, bà Vũ Thị Đ, bà Vũ Thị S, bà Vũ Thị H2, bà Vũ Thị X và chị Lê Thị Hồng Minh và người đại diện hợp pháp: Cùng đồng nhất với quan điểm của người khởi kiện.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 80/2022/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 2 Điều 173; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194, Điều 347, Điều 348 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
- Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 62, Điều 69, Điều 75, Điều 76, Điều 79, Điều 83 Luật Đất đai;
- Căn cứ Điều 12 và Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Bác yêu toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Trọng T về việc tuyên hủy Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND quận Lê Chân và Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 15/5/2019; Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân; tính giá đất bồi thường theo đất ở đô thị; bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho hộ chị Lê Thị Hồng M và hỗ trợ ổn định đời sống cho 04 hộ Vũ Thị H1, Vũ Thị Đ, Vũ Thị X và Lê Thị Hồng M.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/9/2022, người khởi kiện ông Vũ Trọng T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Người khởi kiện ông Vũ Trọng T và đại diện theo ủy quyền của ông T là ông Hoàng Ngh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và lời khai như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét việc ban hành các quyết định của UBND là trái pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không đánh giá khách quan các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm.
- Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vắng mặt nhưng trong Văn bản trình bày ý kiến thể hiện quan điểm giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm. UBND, Chủ tịch UBND quận Lê Chân và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của UBND quận có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại cấp sơ thẩm và nhất trí ý kiến của người khởi kiện và đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến: Về tố tụng quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Người bị kiện - Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng vắng mặt, có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện; những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng: Ông Phạm Văn Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Trần Đức H và ông Nguyễn Xuân Ng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt; UBND và Chủ tịch UBND quận Lê Chân có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
- Về hướng giải quyết vụ án, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung kháng cáo thì thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên đã bác đơn khởi kiện của ông Vũ Trọng T là có căn cứ. Do đó, áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử: Bác kháng cáo của ông Vũ Trọng T và giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 80/2022/HC-ST ngày 14/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:
[1]. Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính; các đương sự trong vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 255 Luật Tố tụng hành chính xét xử vắng mặt theo quy định. Kháng cáo của ông Vũ Trọng T trong thời hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về đối tượng, thời hiệu và thẩm quyền giải quyết: Ngày 21/12/2021, ông Vũ Trọng T khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng; Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND quận Lê Chân và Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 15/5/2019; Quyết định số 987/QĐ-UBND của UBND quận Lê Chân. Đây là các văn bản do cơ quan hành chính Nhà nước ban hành đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện có quyền khởi kiện theo khoản 1 Điều 3, Điều 115 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 32; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu, thẩm quyền thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về thẩm quyền ban hành và trình tự thủ tục ban hành các Quyết định hành chính bị kiện:
[3.1]. Về thẩm quyền ban hành: Căn cứ Điều 66, Điều 69, Điều 71 Luật đất đai 2013, khoản 2, Điều 28 tại Quyết định số 2680/2014/QĐ-UBND ngày 03/12/2014 của UBND thành phố Hải Phòng quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng, UBND quận Lê Chân ban hành Quyết định số Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Hoàng Huy Commerce trên địa bàn phường Kênh Dương, quận Lê Chân (đợt 4 - 06 hộ, bổ sung nhân khẩu và vật kiến trúc 03 hộ) kèm theo Phương án bồi thường là đúng thẩm quyền. Căn cứ Điều 18, Điều 21 Luật khiếu nại, Chủ tịch UBND quận Lê Chân ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai là đúng thẩm quyền.
[3.2]. Đối với Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019: UBND quận Lê Chân đã thực hiện theo nội dung Quyết định số 1004/QĐ-UBND ngày 09/5/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2018 trên địa bàn quận Lê Chân; Công văn số 5381/VP-DDC2 ngày 19/11/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc thu hồi đất, lập phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng lô đất CH12, CH13, NN78 thuộc khu đô thị Hồ Sen Cầu Rào 2 để thực hiện dự án Hoàng Huy Commerce; Quyết định số 1931/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 về việc phê duyệt đồ án điều chỉnh quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 và ban hành quy định quản lý theo đồ án chi tiết 1/2000 quận Lê Chân đến năm 2025. Theo đó, UBND quận Lê Chân đã ban hành quyết định về việc thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; thành lập tổ công tác kiểm kê, bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng; tổ chức họp công bố chủ trương thu hồi đất của các hộ dân nằm trong chỉ giới thu hồi; niêm yết công khai thông báo thu hồi đất và gửi thông báo đến các hộ gia đình; không ai có ý kiến gì về quy trình trên của UBND quận Lê Chân. Theo quy định tại Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai 2013, Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 về việc thu hồi đất đã đảm bảo đúng trình tự quy định pháp luật.
[3.3] Đối với Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản trên đất kèm theo Phương án bồi thường: UBND quận Lê Chân đã tiến hành các thủ tục ban hành Thông báo thu hồi đất, kiểm kê tài sản, thực hiện lấy ý kiến và giao cho người có đất bị thu hồi, ban hành các quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ đúng trình tự quy định tại Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai 2013. Người khởi kiện cũng không có ý kiến gì về trình tự, thủ tục khi Uỷ ban ban hành Quyết định này. Do đó, việc UBND quận Lê Chân ban hành các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và các phương án đi kèm đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.
[3.4] Đối với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 của Chủ tịch UBND quận Lê Chân: Ngày 19/12/2019, ông T có đơn khiếu nại lần đầu gửi Chủ tịch UBND quận Lê Chân khiếu nại đối với Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 và Phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư của UBND quận Lê Chân đối với hộ gia đình ông Vũ Trọng V1 do không đúng quy định pháp luật. Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông, Chủ tịch UBND quận Lê Chân đã ban hành quyết định thành lập tổ xác minh, làm việc với các cá nhân, tổ chức liên quan. Cụ thể, ngày 19/02/2020, Thanh tra quận Lê Chân đã tiến hành làm việc với ông T để xem xét nội dung khiếu nại; từ ngày 29/02/2020, tổ công tác đã tiến hành xác minh thực tế tại địa phương. Ngày 07/4/2020, Trung tâm phát triển quỹ đất UBND quận Lê Chân đã có Báo cáo số 09/BC-TTPTQĐ về việc tham gia dự thảo báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại của ông Vũ Trọng T; ngày 16/4/2020 Chủ tịch UBND quận Lê Chân đã tổ chức đối thoại trực tiếp, giải quyết các nội dung khiếu nại của ông Vũ Văn T nhưng không có kết quả. Ngày 21/4/2020, Chủ tịch UBND quận Lê Chân ban hành Quyết định số 663/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối đơn khiếu nại của ông T đúng quy định tại Điều 18 Luật khiếu nại.
[3.5] Đối với Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 của Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng: Ngày 26/5/2020, ông Vũ Trong T có đơn khiếu nại lần hai gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông, Chủ tịch UBND thành phố đã yêu cầu Thanh tra thành phố xác minh, làm rõ nội dung khiếu nại. Ngày 29/7/2020 và 07/9/2020, Thanh tra thành phố trình Chủ tịch UBND thành phố báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại. Chủ tịch UBND thành phố đã có văn bản giao Chánh thanh tra thành phố tổ chức đối thoại giải quyết khiếu nại. Căn cứ báo cáo của Thanh tra thành phố và kết quả đối thoại ngày 20/8/2020, Chủ tịch UBND thành phố ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020. Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 21 Luật Khiếu nại.
[4]. Về tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định hành chính bị kiện:
- Về nguồn gốc đất, quá trình biến động: Theo Báo cáo số 09/BC-TTPTQĐ (BL 292-293), trên cơ sở xác minh rà soát bản đồ địa chính, sổ mục kê quản lý tại địa phương, hộ cụ Vũ Trọng V1 (cụ V1 có 07 người con) bị thu hồi đất tại 04 thửa đất gồm thửa số 32, 51, 52 và 67 có nguồn gốc như sau:
- Thửa đất số 32: Năm 1990 thuộc thửa đất số 675 Tờ số 02, diện tích 10.701m, chủ sử dụng HTX, loại đất ghi: rau. Năm 1995 là thửa số 320, Tờ số 23, diện tích 462m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa. Năm 2005 là thửa số 94, Tờ số 51, diện tích 462m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa. Thửa đất này ông Vũ Trọng T đã tách thửa cho ông Vũ Trọng Ngh 204m² (theo Biên bản làm việc ngày 30/01/2019 giữa UBND phường Kênh Dương với ông T và ông Nghiêm). Diện tích đất còn lại của hộ gia đình cụ Vũ Trọng V1 quản lý, sử dụng là 258m².
- Thửa đất số 51: Năm 1990, là thửa số 680, Tờ số 02, diện tích 896m², chủ sử dụng HTX, loại đất ghi: rau. Năm 1995: Tờ số 23, gồm 02 thửa, thửa số 321, diện tích 400m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa và thửa số 322, diện tích 375m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa. Năm 2005: Tờ số 51, gồm 02 thửa, thửa số 95, diện tích 400m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa và thửa số 96, diện tích 375m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa. Thửa đất này cụ Vũ Trọng V1 đã chuyển nhượng 360m² cho ông Bùi Văn Th1 (theo Biên bản ngày 04/3/2019 giữa UBND phường Kênh Dương và các hộ gia đình); diện tích đất còn lại là 15m². Do đó, xác định diện tích thu hồi tại thửa 51 là 415m² loại đất nông nghiệp.
- Thửa đất số 52: Năm 1990: Tờ số 02, thửa số 678, diện tích 1.088m², chủ sử dụng HTX, loại đất ghi: 2 lúa. Năm 1995: Tờ số 23, thửa số 318, diện tích 1.190m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa. Năm 2005: Tờ số 51, thửa đất số 97, diện tích 1.190m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa.
- Thửa đất số 67: Năm 1990: Tờ số 02, thửa số 675, diện tích 10.701m², chủ sử dụng HTX, loại đất ghi: đất rau. Năm 1995: Tờ số 23, thửa đất số 317, diện tích 240m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa. Năm 2005: Tờ số 56, thửa đất số 01, diện tích 240m², chủ sử dụng ghi Vũ Trọng V1, loại đất ghi: 2 lúa. Xác định diện tích bị thu hồi tại thửa số 67 là 240m², loại đất nông nghiệp.
Gia đình cụ V1 không được giao đất, không được cấp đất. Tại thời điểm thu hồi đất, hộ gia đình cụ Vũ Trọng V1 đang quản lý, sử dụng 2.103m² đất nông nghiệp.
- Về phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất: Căn cứ theo nội dung Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 14/5/2019, hộ cụ Vũ Trọng V1 được bồi thường: Bồi thường về đất 2.103m² x 100.000đ/m2 = 210.300.000 đồng; Bồi thường hỗ trợ vật kiến trúc: 475.057.507 đồng; Bồi thường hỗ trợ cây cối, hoa màu: 59.541.750 đồng; Hỗ trợ ổn định đời sống: 250.920.000 đồng; Hỗ trợ đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm: 1.051.500.000 đồng. Thực tế, hộ cụ Vũ Trọng V1 đã nhận 5.197.319.257 đồng (trong đó, 2.047.319.257 đồng theo phương án trên và 3.150.000.000 đồng do Công ty Cổ phần đầu tư dịch vụ tài chính Hoàng Huy hỗ trợ).
- Theo hồ sơ quản lý đất đai của chính quyền địa phương, diện tích đất thu hồi của hộ gia đình cụ Vũ Trọng V1 có nguồn gốc là đất nông nghiệp (2 lúa); diện tích thực tế tại thời điểm thu hồi là 2.103m². Thuộc trường hợp thu đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai.
[5] Xét kháng cáo của người khởi kiện: Với các căn cứ và nhận định nêu trên của bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm đồng tình với nhận định và quyết định của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Trọng T, gồm các yêu cầu sau: Hủy các Quyết định số 3695/QĐ-UBND ngày 07/12/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng và Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 21/4/2020 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND quận Lê Chân và Quyết định số 981/QĐ-UBND ngày 15/5/2019; Quyết định số 987/QĐ-UBND ngày 14/5/2019 của UBND quận Lê Chân; không chấp nhận yêu cầu về việc bồi thường theo giá đất ở đô thị đối với diện tích đất bị thu hồi; yêu cầu hỗ trợ tái định cư và hỗ trợ ổn định đời sống đối với 04 hộ dân.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Vũ Trọng T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Trọng T.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm.
[6]. Về án phí: Ông Vũ Trọng T kháng cáo không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Tuy nhiên, ông T thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên HĐXX miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Vũ Trọng T.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Vũ Trọng T; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 80/2022/HC-ST ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Vũ Trọng T.
- Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tự Học |
Bản án số 637/2023/HC-PT ngày 28/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 637/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa NKK ông Vũ Trọng T với NBK Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Ph
