Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 637/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2020
V/v tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Như Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Kim Em
  2. Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh

Thư ký Tòa án phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Tp.HCM tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 107/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2020/QĐHPT ngày 11/9/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ N, sinh năm 1970 (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1969 (có mặt).

Cùng địa chỉ: A, đường BN, khu phố 5, phường Đ, Quận 7, Thành phố HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Võ N trình bày: Bà và ông Nguyễn H qua thời gian tìm hiểu nhau được 05 tháng, sau đó ông bà tiến đến hôn nhân vào năm 1992, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (giấy chứng nhận kết hôn số 87 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, Thành phố HCM cấp ngày 29/12/1992).

Vợ chồng sống hạnh phúc được 10 (mười) năm, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ chồng không có sự chia sẻ trong cuộc sống, ông H hay đánh bà, không có sự tôn trọng bà, vì gia đình bà đã khuyên ông H suốt trong thời gian chung sống, nhưng ông H không thay đổi.

Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2020 đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng là không còn và không có khả năng đoàn tụ, nên yêu cầu:

  • Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
  • Về con chung: có 03 (ba) con chung, họ tên: Nguyễn G (nữ) sinh ngày 30/11/1993 (trưởng thành), Nguyễn KN (nữ) sinh ngày 21/5/1998 (trưởng thành), Nguyễn T (nữ) sinh ngày 30/4/2004. Bà đồng ý giao trẻ Nguyễn T cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay bà vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông H, bà xác định không còn tình cảm, không còn khả năng đoàn tụ. Bà đồng ý để trẻ T cho ông H nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung không yêu cầu giải quyết, không có nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn H trình bày: Ông xác nhận lời trình bày của bà N về việc kết hôn là đúng. Quá trình vợ chồng chung sống, ông bà cũng có ra mâu thuẫn, không lớn, lý do bà N không có quan tâm đến gia đình chồng, bà N chỉ lo cho gia đình bên mình. Mỗi khi ông đi làm về mệt, bà N không có thái độ thông cảm, còn hay trách mắng, thiếu sự chia sẻ, thêm vào đó là kinh tế gia đình khó khăn nên cuộc sống vợ chồng thường xuyên gây gổ, ông có đánh bà do ông với bà N bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con chung.

Tuy nhiên, ông không đồng ý ly hôn với bà N, vì vợ chồng phải chung sống cả đời với nhau, để con cái có đủ cả cha lẫn mẹ, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông được đoàn tụ. Ông cam kết từ nay sẽ không đánh đập bà N nữa.

Con chung có 3 con chung như bà N trình bày. Trong trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N thì ông đồng ý nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn T (nữ) sinh 30/4/2004, ông không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Tự giải quyết, không yêu cầu tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà N yêu cầu ly hôn với bị đơn ông H, do ông H cư ngụ tại A, đường BN, khu phố 5, phường Đ, Quận 7, Thành phố HCM, đây là “Tranh chấp ly hôn”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1]. Xét về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 87 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, Thành phố HCM cấp ngày 29/12/1992 có đủ cơ sở để xác định bà N và ông H là vợ chồng hợp pháp. Tuy nhiên trong quá trình chung sống giữa ông H, bà N xảy ra mâu thuẫn kéo dài, ông H không có trách nhiệm với gia đình, không chia sẻ cùng bà N ngược lại hay đánh bà N, ông H không biết sửa chữa, khắc phục để cùng bà N con cái, gia đình. Bà N cũng xác định không còn tình cảm, bà không thể chịu đựng để chung sống với ông H nữa, bà yêu cầu được ly hôn với ông H, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của ông bà là trầm trọng, mục đích hôn nhân không hạnh phúc, không thể đoàn tụ được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

[2.2]. Xét về con chung: Căn cứ các Giấy khai sinh và lời khai của trẻ T, trẻ T có nguyện vọng ở với ông H và bà N cũng đồng ý được giao con chung là trẻ T cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Ông H đồng ý với yêu cầu trên, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, Điều 278 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015.

Xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Võ N. Cho bà Võ N được ly hôn với ông Nguyễn H (giấy chứng nhận kết hôn số 87 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, Thành phố HCM cấp ngày 29/12/1992 không còn giá trị pháp lý).

[2]. Về con chung: Các đương sự xác nhận có 03 (ba) con chung, họ tên:

  • Nguyễn G (nữ) sinh ngày 30/11/1993 (trưởng thành);
  • Nguyễn KN (nữ) sinh ngày 21/5/1998 (trưởng thành);
  • Nguyễn T (nữ) sinh ngày 30/4/2004.

Giao con chung là trẻ Nguyễn T (nữ) sinh ngày 30/4/2004, cho ông Nguyễn H được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông H về việc không yêu cầu bà Võ N không cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2018/0032284 ngày 26/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Võ N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- TAND Tp.HCM;
- VKSND Q.7, Tp.HCM;
- C/c THADS Q. 7, Tp.HCM;
- UBND P.TTĐ, Q.7;
- Các đương sự;
- Lưu (TK.Trang).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trương Như Thủy
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 637/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 637/2020/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Bé Ngọc Nguyễn Văn Hoa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger