|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 636/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Vân;
- 2. Bà Lê Thị Phương Hồ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Hà Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 391/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm: 1996; địa chỉ: Số D H, Khu phố F, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Đồng Ngọc An K, sinh năm: 1994; nơi thường trú: Số E Đường A, Tổ B, Khu phố F, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; hiện đang chấp hành án tại Đội 4, Phân trại III, Trại giam C thuộc Bộ C1. (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 22 tháng 3 năm 2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Đ trình bày:
Bà với ông Đồng N An Khang tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 85, ngày 19/7/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình nhà chồng tại địa chỉ số E Đường A, Tổ B, Khu phố F, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian ngắn ban đầu, hai vợ chồng sống hòa thuận, tuy nhiên sau đó liên tục xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, ông K không tin tưởng và nghi ngờ vô cớ, thường buông lời xúc phạm, đánh đập bà. Ông K không quan tâm, chăm sóc gia đình, nhậu nhẹt, công việc không ổn định, thường xuyên tụ tập chơi với bạn bè xấu. Gia đình hai bên nội ngoại có biết chuyện nhưng cũng không thể giúp ông K thay đổi. Bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn và khuyên bảo ông K nhưng không có kết quả, sự việc kéo dài liên tục trong nhiều năm. Hai vợ chồng đã ly thân hơn 03 năm, tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Đồng Thị Thúy V, sinh ngày: 21/7/2016; hiện con chung đang sống với bà Đ. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Đơn khởi kiện; Bản tự khai; Đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải; CCCD Nguyễn Thị Hồng Đ (bản sao); Giấy khai sinh của con chung (bản sao); S gặp phạm nhân và gửi tiền lưu ký; Trích lục kết hôn (bản sao); Giấy đăng ký kết hôn (bản chính); Đơn trình bày nguyện vọng của con (bản chính).
Theo bản tự khai ngày 25 tháng 4 năm 2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Đồng Ngọc An K trình bày:
Vợ ông là bà Nguyễn Thị Hồng Đ có đơn yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý ly hôn do còn tình cảm với vợ và thương con.
Về con chung: Ông và bà Đ có 01 con chung tên là Đồng Thị Thúy V, sinh ngày: 21/7/2016, hiện tại con chung đang sống với bà Đ. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông đồng ý để bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Các tài liệu, chứng cứ mà bị đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Bản tự khai; Đơn xin vắng mặt;
Ông Đồng Ngọc An K có đơn xin vắng mặt tại phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử sơ thẩm. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, tại phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung Đơn khởi kiện ngày 22 tháng 3 năm 2024, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” được quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thuộc trường hợp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn C, huyện C. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về tống đạt, xét xử vắng mặt của đương sự: Ông Đồng Ngọc An K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tuy nhiên ông K có đơn xin vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa xét xử sơ thẩm; căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ và ông Đồng N An Khang tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 85, ngày 19/7/2016 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Đ khởi kiện ly hôn với ông Đồng Ngọc An K: Hội đồng xét xử xét thấy theo lời trình bày của bà Đ và những tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ông K có hành vi bạo lực gia đình. Ông K không có công việc ổn định, thường chơi bời tụ tập với bạn bè xấu, có sử dụng chất kích thích và không phụ giúp bà trong việc chăm sóc gia đình, con cái. Bà Đ và ông K đã ly thân được 03 năm. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy ông K thể hiện rằng ông còn tình cảm với vợ, không mong muốn ly hôn nhưng Hội đồng xét xử xét thấy ông K đã vi phạm quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà Đ và ông K đã trở nên mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung của hai bên không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung tên là Đồng Thị Thúy V, sinh ngày: 21/7/2016, hiện con chung đang sống với bà Đ. Ghi nhận sự tự nguyện của ông K đồng ý giao trẻ V cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà Đ không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất không có tài sản chung, không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.
[2.4] Nghĩa vụ dân sự chung: Các đương sự thống nhất không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.5] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng
[5]. Về phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng Đ được ly hôn với ông Đồng Ngọc An K.
Giấy chứng nhận kết hôn số 85 ngày 19/7/2016 đã được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Đ, ông K không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 01 con chung tên là Đồng Thị Thúy V, sinh ngày: 21/7/2016. Bà Đ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đ không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung có thể thay đổi do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Đ phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2023/0019706 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phồ Hồ Chí Minh. Bà Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 636/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 636/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng Đ. Bà Nguyễn Thị Hồng Đ được ly hôn với ông Đồng Ngọc An K.
