trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 636/2024/DS - PT

Ngày 16 – 12 – 2024

Về việc tranh chấp hậu quả hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phận

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Rẻn

Ông Nguyễn Chí Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 410/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4448/2024/QĐXXPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mỹ N, sinh năm 1971

Địa chỉ: Số A đường H, phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị Mỹ N: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1979 (Tại giấy ủy quyền ngày 11/12/2023); có mặt.

Địa chỉ: Số A đường L, phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Kim H1, sinh năm 1981; vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1961; có mặt.

Địa chỉ: Số B, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Bà Nguyễn Huỳnh N1, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H2: Bà Nguyễn Huỳnh N1, sinh năm 1995; có mặt.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Người kháng cáo: Bà Dương Thị Mỹ N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện của bà Dương Thị Mỹ N và trong quá trình giải quyết tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ N là bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:

Ngày 28/5/2020, bà Dương Thị Mỹ N và bà Lê Thị Kim H1 ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa số 412, tờ bản đồ số 21, tọa lạc xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre, đất do ông Nguyễn Văn H2 và bà Lâm Thị Mai T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H1 là người đại diện theo ủy quyền để ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau đó bà N ký hợp đồng cho bà H1 thuê lại phần đất nêu trên vào ngày 20/7/2020. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2020 và hợp đồng cho thuê đất ngày 28/7/2020; phần đất thửa 412, tờ bản đồ số 21 điều chỉnh lại cho ông Nguyễn Văn H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên tại bản án nêu trên không xử lý hậu của hợp đồng vô hiệu đối với số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà bà N đã giao cho bà H1 và ông H2 là 500.000.000 đồng.

Bà Dương Thị Mỹ N yêu cầu xử lý hậu quả do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H2, bà Lê Thị Kim H1 với bà Dương Thị Mỹ N đã bị tuyên vô hiệu; buộc bà Lê Thị Kim H1, ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Huỳnh N1 liên đới trả cho bà N số tiền 500.000.000 đồng, thay đổi yêu cầu bồi thường giá trị đất chênh lệch số tiền là 149.000.000 đồng; tổng số tiền là 649.000.000 đồng.

Theo biên bản làm việc ngày 03/7/2024; biên bản làm việc ngày 05/4/2023 và biên bản đối chất ngày 05/4/2023 bị đơn bà Lê Thị Kim H1 trình bày:

Bà và bà Dương Thị Mỹ N quen biết làm ăn chung, thông qua sự quen biết với ông H2 có nhu cầu vay tiền, do thấy gia đình ông H2 khó khăn nên bà chấp nhận và hai bên bắt đầu ký kết các hợp đồng ủy quyền và văn bản thỏa thuận về việc giao nhận tiền vào cùng ngày 23/5/2020. Trước khi ký các giấy tờ này trước đó bà đã đưa cho ông H2 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Vào ngày 23/5/2020 bà đưa thêm cho ông H2 480.000.000 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu đồng), do thỏa thuận mua phần đất của ông H2 là 500.000.000 đồng. Bà H1 đã giao cho ông Huỳnh Đ số tiền số tiền 500.000.000 đồng. Tuy nhiên chỉ ký giấy giao nhận số tiền 130.000.000 đồng, số tiền còn lại không có giấy tờ gì. Toàn bộ số tiền 500.000.000 đồng đưa cho ông H2 là tiền của bà Dương Thị Mỹ N đưa. Bà H1 chỉ là người môi giới cho bà N và ông H2, số tiền 500.000.000 đồng của bà N thì bà H1 đã giao đủ cho ông H2 nên không đồng ý trả lại tiền theo yêu cầu của bà N.

Do hiện tại bà đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B nên đề nghị Tòa án căn cứ vào lời trình bày, lời khai của bà H1 trong vụ án trước đây để giải quyết vụ án và yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt bà.

Theo biên bản hòa giải, bản tự khai, và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Huỳnh N1 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H2 trình bày:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2020 và hợp đồng cho thuê đất ngày 28/7/2020. Phần đất thửa 412, tờ bản đồ số 21 điều chỉnh lại cho ông Nguyễn Văn H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H2 và N1 đồng ý liên đới trả lại cho bà H1 số tiền đã nhận là 150.000.000 đồng và tiền lãi suất như bản án đã tuyên. Đối với yêu cầu của N về việc liên đới cùng bà H1 trả số tiền 649.000.000 đồng thì ông H2 và bà N1 không đồng ý. Số tiền 649.000.000 đồng là do bà H1 nhận từ bà N nên bà H1 có nghĩa vụ trả lại cho bà N.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đưa vụ án ra xét xử với quyết định:

Căn cứ các điều 123, 124, 131, 407, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Mỹ N về việc tranh chấp hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Buộc bà Lê Thị Kim H1 có trách nhiệm trả cho bà Dương Thị Mỹ N số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và số tiền bồi thường cho bà Dương Thị Mỹ N là 149.000.000 (Một trăm bốn mươi chín triệu) đồng. Tổng số tiền bà Lê Thị Kim H1 có nghĩa vụ trả cho bà Dương Thị Mỹ N là 649.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi chín triệu đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu liên đới đối với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Huỳnh N1.

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.

    Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, bà Dương Thị Mỹ N kháng cáo.

Theo đơn kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ N2 và tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bà N giữ nguyên nội dung kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Lý do bà N kháng cáo vì Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc cá nhân bà H1 phải trả tiền cho bà N là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà. Bởi vì, việc bà H1 và gia đình ông H2 thỏa thuận hợp đồng vay là bà hoàn toàn không biết, bà là người thứ ba ngay tình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo văn bản ủy quyền giữa bà H1, ông H2 và bà T, nếu không có văn bản ủy quyền đó thì bà sẽ không thực hiện các giao dịch với bà H1 nên trách nhiệm của người ủy quyền phải chịu trách nhiệm đối với việc ủy quyền của mình. Đồng thời, bên gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên bị thiệt hại. Ngoài ra để tránh trường hợp các cá nhân bất chấp hậu quả của việc ủy quyền (do ủy quyền không đúng thì hợp đồng vô hiệu và không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi ủy quyền) nên mặc sức ủy quyền gây hậu quả nghiêm trọng mà không phải chịu trách nhiệm thì phải buộc cá nhân đã ủy quyền cùng phải chịu trách nhiệm với người nhận ủy quyền nếu hành vi đó sai gây hậu quả cho người khác. Do đó, bà N yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá lại toàn bộ nội dung vụ án, xét xử theo hướng buộc ông Nguyễn Văn H2 phải liên đới với bà Lê Thị Kim H1 trả cho bà toàn bộ số tiền bà H1 đã nhận và bồi thường cho bà một khoản tiền tương ứng với ½ giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch với tổng số tiền là 649.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H2 đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Huỳnh Như K đồng ý nội dung kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ N, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ N, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng. Xét kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ N và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Dương Thị Mỹ N kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Bà Lê Thị Kim H1 có đơn xin kháng cáo ngày 21/9/2024, tuy nhiên từ thời gian kháng cáo cho đến nay bà H1 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Mặc dù, bà H1 đã nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhưng bà H1 không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, cũng như không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, bà H1 cũng không có đơn xin không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó, đơn kháng cáo của bà H1 không đủ điều kiện để thụ lý phúc thẩm và xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Bà Dương Thị Mỹ N yêu cầu xử lý hậu quả do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H2, bà Lê Thị Kim H1 với bà Dương Thị Mỹ N đã bị tuyên vô hiệu; buộc bà Lê Thị Kim H1, ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Huỳnh N1 liên đới trả cho bà N số tiền 500.000.000 đồng, giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch là 149.000.000 đồng, tổng số tiền là 649.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Huỳnh N1, bà Lê Thị Kim H1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy: Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã có hiệu lực pháp luật đã tuyên bố vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 25/3/2020, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2020 và hợp đồng cho thuê đất ngày 28/7/2020; kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Dương Thị Mỹ N thửa số 412, tờ 21, diện tích 145,6 m² tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre số CY 607745 vào sổ cấp GCN: CS09912, để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H2; ghi nhận ông Nguyễn Văn H2 đồng ý trả cho bà Lê Thị Kim H1 số tiền là 194.820.000 đồng (trong đó tiền vốn vay là 150.000.000 đồng, tiền lãi là 44.820.000 đồng). Do bản án dân sự sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật nên những nội dung đã được giải quyết trong bản án Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[3] Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Tại phần nhận định của Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã nhận định đối với số tiền mà bà N đưa cho bà H1 nhận là 500.000.000 đồng giữa bà N với bà H1 tự giải quyết, nếu không giải quyết được bà N khởi kiện bà H1 một vụ án khác. Việc bà Dương Thị Mỹ N khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là có cơ sở. Bà Dương Thị Mỹ N xác định số tiền 500.000.000 đồng đã giao cho bà Lê Thị Kim H1; bà Lê Thị Kim H1 thừa nhận số tiền 500.000.000 đồng là do bà H1 nhận từ bà N. Đây là sự kiện tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bà H1 cho rằng đã giao đủ số tiền 500.000.000 đồng cho phía ông Nguyễn Văn H2. Bà H1 cho rằng đã đưa cho ông Huỳnh nhận 500.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh (theo biên bản làm việc ngày 05/4/2023 và biên bản đối chất ngày 05/4/2023 bị đơn bà Lê Thị Kim H1 trong vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 35/2022/TLST – DS ngày 14 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre). Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì các bên đương sự hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Ông Nguyễn Văn H2 thừa nhận có nhận của bà H1 số tiền 150.000.000 đồng và số tiền này đã giải quyết xong theo Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre nên không đề cập xem xét trong vụ án này và cũng không có cơ sở để xem xét trách nhiệm liên đới của ông H2 và bà N1. Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2023/DS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/5/2020 đối với phần đất thửa 412, tờ bản đồ số 21 là vô hiệu do không phù hợp với giá đất thị trường tại thời điểm chuyển nhượng; hợp đồng ủy quyền ngày 23/5/2024 bị vô hiệu. Do hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do vi phạm điều cấm theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên xem xét việc bồi thường thiệt hại. Giá trị đất theo thị trường (theo biên bản định giá ngày 21/4/2023) là (6.000.000 đồng x 70 m² loại đất ONT) + (5.000.000 x 75, m² loại đất CLN ); giá trị đất theo hợp đồng là 500.000.0000 đồng; số tiền chênh lệch là 298.000.000 đồng. Xét lỗi của hợp đồng vô hiệu là lỗi cả bà N và bà H1 nên mỗi bên phải chịu ½ thiệt hại phát sinh theo mức chênh lệch giá trị giữa giá theo hợp đồng chuyển nhượng và giá thị trường của phần đất được chuyển nhượng. Từ những căn cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Mỹ N về việc tranh chấp hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, buộc bà Lê Thị Kim H1 có trách nhiệm trả cho bà Dương Thị Mỹ N số tiền là 500.000.000 đồng và số tiền bồi thường cho bà Dương Thị Mỹ N là 298.000.000 đồng x ½ = 149.000.000 đồng, tổng số tiền bà Lê Thị Kim H1 có nghĩa vụ trả cho bà Dương Thị Mỹ N là 649.000.000 đồng; đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu liên đới đối với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Huỳnh N1 là có căn cứ. Bà Dương Thị Mỹ N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ có giá trị chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Dương Thị Mỹ N không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ N. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Áp dụng các điều 123, 124, 131, 407, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Mỹ N về việc tranh chấp hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Buộc bà Lê Thị Kim H1 có trách nhiệm trả cho bà Dương Thị Mỹ N số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và số tiền bồi thường cho bà Dương Thị Mỹ N là 149.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu đồng). Tổng số tiền bà Lê Thị Kim H1 có nghĩa vụ trả cho bà Dương Thị Mỹ N là 649.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi chín triệu đồng).
  2. Không chấp nhận yêu cầu liên đới đối với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Huỳnh N1.

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Bà Lê Thị Kim H1 phải chịu là 29.960.000 đồng (Hai mươi chín triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

    Hoàn trả cho bà Dương Thị Mỹ N số tiền số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000537 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  6. Bà Dương Thị Mỹ N phải chịu số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003094 ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THAHS tỉnh Bến Tre;
  • - Chánh án TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Phận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 636/2024/DS - PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

  • Số bản án: 636/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger