TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 635/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-9-2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phơ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thu Huệ
- Bà Võ Thị Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Đức – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 682/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 330/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 301 /2024/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Như B, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Huỳnh Quang T, sinh năm 1983; địa chỉ: Số E Đường số B, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Như B trình bày:
Bà Nguyễn Ngọc Như B và ông Huỳnh Quang T qua thời gian tìm hiểu 06 (sáu) tháng thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà Bình sinh con nên không đi làm, ông T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con, hay nhậu nhẹt về đánh đập bà B, vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, kinh tế khó khăn nên thường xuyên xảy ra cãi vã, không hòa giải, hàn gắn được. Bà B đã dọn về quê sống ở Vĩnh Long, vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm lẫn nhau, sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay.
Bà B xác định tình cảm vợ chồng đã hết không còn khả năng hàn gắn, không thể tiếp tục cuộc sống chung, sống ly thân đã lâu, nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Như B yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Quang T.
Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Như B và ông Huỳnh Quang T có một người con chung, họ tên: Huỳnh Gia K (Giới tính: N), sinh ngày 01/3/2023. Sau khi ly hôn, bà B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc Như B xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.
Ý kiến của Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng những quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Như B khởi kiện yêu cầu ly hôn, bị đơn ông Huỳnh Quang T hiện đang cư trú tại Quận G nên đây là “Tranh chấp về ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bà Nguyễn Ngọc Như B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt hợp lệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà B theo quy định tại Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Theo Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 259/2024/QĐ-CCTLCC ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7 do Công an phường T, Quận G xác minh cư trú: Ông Huỳnh Quang T hiện đang cư trú tại địa chỉ: Số E Đường số B, Khu phố B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án thực hiện gửi giấy triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T tại địa chỉ trên, nhưng ông T từ chối nhận văn bản tố tụng. Tòa án đã thông báo, niêm yết hợp lệ văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là ông T theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Về yêu cầu của các đương sự:
[6] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Như B và ông Huỳnh Quang T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2022 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 66 đăng ký ngày 11/8/2022 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm, có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, kinh tế khó khăn nên thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn đã trầm trọng không khắc phục và hàn gắn được. Bà B xác định tình cảm không còn, vợ chồng sống ly thân đã lâu nên yêu cầu được ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Như B và ông Huỳnh Quang T có một người con chung là Huỳnh Gia K (Giới tính: Nam), sinh ngày 01/3/2023; hiện trẻ Huỳnh Gia K đang sống cùng bà B, bà B yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn là phù hợp nên chấp nhận, ghi nhận sự tự nguyện của bà B không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
[8] Ông T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
[9] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc Như B xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung.
[10] Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Như B phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 ; điểm a Khoản 1 Điều 35 ; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1, điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Như B được ly hôn với ông Huỳnh Quang T (Giấy chứng nhận kết hôn số: 66 đăng ký ngày 11/8/2022 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Như B và ông Huỳnh Quang T có một người con chung là Huỳnh Gia K (Giới tính: Nam), sinh ngày 01/3/2023; sau khi ly hôn, giao cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Gia K, ghi nhận sự tự nguyện của bà B không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Ông T có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc Như B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0037532 ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh và theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số [...] ngày 14/11/2023, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, số tài khoản 3949.0.1053934.00000 tại Kho bạc nhà nước Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Thông báo nộp tiền số 757/TB-TA ngày 14 tháng 11 năm 2023, Mã thông báo: 719X633PGH. Bà B đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
- Quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Phơ |
Bản án số 635/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 635/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Ngoc Nhu B - Huynh Quang T
