|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 635/2024/DSST
Ngày 29 tháng 8 năm 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Tám
- Ông Huỳnh Văn Bé
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Võ Ngọc Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 713/2024/DSST ngày 14/12/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2024/QĐXXST-DS ngày 16/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 441/2024/QĐST-DS ngày 06/8/2024, giữa:
Nguyên đơn: Công ty T2 (Việt Nam).
Trụ sở: Số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee J, sinh năm 1972.
Địa chỉ thường trú: 4623-501, 252 Beopjo-ro, S-gu, Y-si, G-do, Hàn Quốc.
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Công ty L Niềm Tin
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tất T, sinh năm 1983
Trụ sở: Phòng số 401, tầng 4, toà nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 199/2023/GUQ-MAFC ngày 23/5/2023).
Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phạm Thành N, sinh năm 2000 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: P, tầng D, tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 24/5/2023 và Giấy ủy quyền ngày 17/4/2024 (ủy quyền lại cho người thứ 3)).
Bị đơn: Ông Phùng Quốc T1, sinh năm 1981. (Vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: Số B đường N, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn là Công ty T2 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T2) có ông Nguyễn Phạm Thành N là người đại diện theo ủy quyền lại trình bày:
Ngày 04/8/2022, Công ty T2 và ông Phùng Quốc T1 đã ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dung số 3456283 đề ngày 01/8/2022 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng số: 3456283 đề ngày 01/8/2022) về việc cấp tín dụng cho ông Phùng Quốc T1 với khoản vay trị giá 53.300.000 đồng lãi suất là 3.50%/tháng, lãi suất theo năm là 42.00%/tháng (một năm được quy định là 365 ngày). Sau khi ký kết, Công ty T2 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông T1. Theo Hợp đồng tín dụng, ông T1 có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.628.347 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 07/09/2022 đến ngày 07/08/2025.
Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, ông T1 đã không thực hiện đúng theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T2 đã giải ngân. Công ty T2 đã đề nghị ông T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, ông T1 vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T2.
Căn cứ quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay; khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng 2010 về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng; khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, cụ thể là không thanh toán đúng hạn số tiền theo quy định của Hợp đồng tín dụng ký kết với Công ty T2.
Tính đến ngày 27/5/2024, ông T1 đã trễ hạn không thanh toán các khoản tiền như sau: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 53.300.000 đồng. Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 32.505.606 đồng. Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 11.087.093 đồng. Số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 3.141.111 đồng.
Tạm tính đến ngày 27/5/2024 thì tổng số tiền ông T1 phải tất toán (bao gồm dư nợ gốc, lãi) là: 100.033.810 đồng.
Nay Công ty T2 khởi kiện đề nghị Toà án xem xét giải quyết buộc ông Phùng Quốc T1 thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T2 tạm tính đến ngày 27/5/2024 là 100.033.810 đồng. Đồng thời thanh toán lãi, phí phát sinh từ ngày 28/5/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nói trên.
* Bị đơn là ông Phùng Quốc T1: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả mở phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do cũng không nộp bản khai trình bày ý kiến của mình.
* Tại phiên tòa:
* Nguyên đơn nộp cho Tòa án đơn xin xét xử văng mặt, Bản tự khai đề ngày 21/8/2024; Giấy chứng nhận bảo hiểm và Bản liệt kê số tiền yêu cầu bị đơn phải trả tính đến ngày 29/8/2024; theo đó Công ty T2 yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 108.103.631 đồng, trong đó nợ gốc còn lại là 53.300.000 đồng, tiền lãi phải thu là 35.580.306 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn phải thu là 15.199.778 đồng và số tiền lãi chậm trả phải thu là 4.023.547 đồng. Đồng thời yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 30/8/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực của Tòa án.
* Bị đơn vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp do đó Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Từ ngày thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019). Đối với bị đơn, do bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền tạm tính đến ngày 29/8/2024 là 108.103.631 đồng, trong đó: nợ gốc là 53.300.000 đồng, lãi trong hạn là 35.580.306 đồng, lãi quá hạn là 15.199.778 đồng, lãi chậm trả là 4.023.547đồng và thanh toán toàn bộ khoản lãi phát sinh từ ngày 28/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 3456283 giữa ông T1 và Công ty T2 ngày 04/8/2022 thể hiện Công ty thỏa thuận cho ông T1 vay số tiền 53.300.000 đồng, lãi suất 42%/năm, trong đó 50.000.000 đồng giải ngân cho ông T1, còn 3.300.000 đồng là phí bảo hiểm. Căn cứ vào Phiếu báo nợ số giao dịch FT22216010137140 của Ngân hàng TMCP K thể hiện Công ty T2 đã chuyển vào tài khoản của ông Phùng Quốc T1 số tiền 50.000.000 đồng. Căn cứ Giấy chứng nhận bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm số 9173699 của Công ty TNHH T2 thể hiện Công ty T2 đã tham gia bảo hiểm số tiền 3.300.000 đồng đối với khoản vay của ông T1. Do đó, có cơ sở để nhận định Công ty T2 đã giải ngân đủ số tiền 53.300.000 đồng cho ông T1. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 chưa thanh toán cho Công ty T2 bất kỳ số tiền nào. Tính đến ngày 29/8/2024, ông T1 còn nợ số tiền 108.103.631 đồng, trong đó: nợ gốc là 53.300.000 đồng, lãi trong hạn là 35.580.306 đồng, lãi quá hạn là 15.199.778 đồng, lãi chậm trả là 4.023.547 đồng.
Xét thấy ông T1 có vay Công ty T2 số tiền 53.300.000 đồng nhưng không trả số tiền nợ là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Do đó, căn cứ vào Điều 280, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty T2.
Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 298, Điều 299, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền tạm tính đến ngày 29/8/2024là 108.103.631 đồng, trong đó: nợ gốc là 53.300.000 đồng, lãi trong hạn là 35.580.306 đồng, lãi quá hạn là 15.199.778 đồng, lãi chậm trả là 4.023.547 đồng và thanh toán toàn bộ khoản lãi phát sinh từ ngày 30/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là Công ty T2 khởi kiện bị đơn là ông Phùng Quốc T1, yêu cầu Toà án buộc ông T1 thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T2 theo Hợp đồng tín dụng số: 3456283 đề ngày 01/8/2022 nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Cấp tín dụng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017), thuộc trường hợp “Tranh chấp hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2019).
[2] Về thẩm quyền Tòa án giải quyết vụ án: Bị đơn trong vụ án là ông Phùng Quốc T1 cư trú tại số B đường N, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
[3] Về sự có mặt của các đương sự: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Ủy quyền lại cho người thứ ba) có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 288 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định.
[4] Bị đơn trong quá trình tố tụng vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử chỉ xem xét các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Hợp đồng tín dụng số 3456283 đề ngày 01/8/2022 được ký kết giữa Công ty T2 với ông Phùng Quốc T1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết.
Căn cứ giấy Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3456283 đề ngày 01/8/2022 có căn cứ xác định ông Phùng Quốc T1 có vay tiền của Công ty T2 tổng số tiền 53.300.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng) để sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân với lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng là 3,5%/tháng; lãi suất theo năm được tính là 42%/năm (Một năm được tính là 365 ngày), thời hạn vay là 36 tháng (từ ngày 07/9/2022 đến ngày 07/8/2025) theo hình thức trả tiền hàng tháng.
Theo Phiếu báo nợ của Ngân hàng thương mại cổ phần K đề ngày 04/8/2022 thì ông Phùng Quốc T1 đã nhận được số tiền 50.000.000 đồng,
Theo Giấy chứng nhận bảo hiểm đề ngày 05/8/2022 của Công ty TNHH T2 Prévoir thể hiện khoản vay số tiền 50.000.000 đồng của ông T1 đã được đóng phí bảo hiểm số tiền là 3.300.000 đồng;
Như vậy, có cơ sở để xác định Công ty T2 đã cho ông Phùng Quốc T1 vay số tiền là 53.300.000 đồng
Theo Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng (tính lãi đến ngày 27/5/2024) đề ngày lấy số liệu là ngày 27/5/2024 thì đến ngày nguyên đơn nộp đơn khởi kiện và đến nay theo Bản tính lãi nguyên đơn cung cấp cho Tòa án đề ngày 29/8/2024 thì ông T1 vẫn chưa thanh toán cho Công ty T2 bất kỳ khoản tiền nào liên quan đến khoản vay nêu trên nên ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã thỏa thuận. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 buộc ông T1 thanh toán số tiền nợ gốc 53.300.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Việc ông T1 không thanh toán nợ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Công ty T2 vi phạm điều khoản về nghĩa vụ trả nợ của khách hàng quy định tại Điều 3; khoản 8.1, điểm a, Điều 8 của Hợp đồng tín dung số 3456283 đề ngày 01/8/2022; Điều 8 của Bản điều khoản và điều kiện cho vay của Công ty T2 và vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay.
Theo Bản liệt kê tiền phải thu của Công ty T2 đề ngày 29/8/2024 và bản khai đề ngày 21/8/2024 trong đó Công ty T2 yêu cầu bị đơn phải trả cho Công ty T2 tổng số tiền là 108.103.631 đồng, trong đó nợ gốc còn lại là 53.300.000 đồng, tiền lãi phải thu là 35.580.306 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn phải thu là 15.199.778 đồng và số tiền lãi chậm trả phải thu là 4.023.547 đồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì “lãi suất của hợp đồng tín dụng được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên quy định tại hợp đồng”. Căn cứ Điều 3.7, Điều 3.8, Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng số 3456283; Điều 5 Bản điều khoản và điều kiện cho vay của Công ty T2 và quy định tại khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 4 Điều 13, Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN (sửa đổi, bổ sung 2023) thì việc Công ty T2 áp dụng mức lãi suất và đề nghị ông T1 phải trả tổng số tiền là 108.103.631 đồng, trong đó nợ gốc còn lại là 53.300.000 đồng, tiền lãi phải thu là 35.580.306 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn phải thu là 15.199.778 đồng và số tiền lãi chậm trả phải thu là 4.023.547 đồng là phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Luật Các tổ chức tín dụng thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng... thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”, do đó, đối với hợp đồng vay tài sản mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên quy định tại hợp đồng.
Như vậy yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc, lãi quá hạn tiếp theo từ ngày 30/8/2024 của Công ty T2 là có cơ sở để chấp nhận.
[6] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của mình không được Tòa án chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 272 và Điều 273, khoản 1, khoản 3 Điều 288 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 2, Điều 3; khoản 2 Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017);
Căn cứ khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN (sửa đổi, bổ sung 2023);
Căn cứ khoản 4 Điều 26 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 (Việt Nam).
[2] Buộc ông Phùng Quốc T1 phải thanh toán cho Công ty T2 (Việt Nam) tổng số tiền tính đến ngày 29/8/2024 là 108.103.631 (một trăm lẻ tám triệu, một trăm lẻ ba nghìn, sáu trăm ba mươi mốt) đồng (trong đó nợ gốc là 53.300.000 đồng, tiền lãi phải thu là 35.580.306 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn phải thu là 15.199.778 đồng và số tiền lãi chậm trả phải thu là 4.023.547 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Phùng Quốc T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3456283 đề ngày 01/8/2022 mà các bên đã ký kết, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong giấy Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 3456283 đề ngày 01/8/2022, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.
Các bên thi hành bản án ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phùng Quốc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.405.182 đồng; nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền. H lại cho Công ty T2 (Việt Nam) số tiền 300.000 đồng theo biên lai số lai số 0018819 ngày 17/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
[4] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2020) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2020); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2020)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Hòa |
Bản án số 635/2024/DSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 635/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
