|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 634/2024/HNGĐ-ST Ngày 28-05-2024 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Xuân Hương
- Ông Võ Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 28 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 224/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1968; địa chỉ: số B đường L, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bị đơn: Bà Lương Thị D, sinh năm 1970; địa chỉ: phòng số C, nhà trọ 103A, Đường B, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện sống chung với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1994. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên chửi bới, gây gỗ, cãi vã nhau. Mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được nên vợ chồng đã sống ly thân khoảng 05 năm nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nguyên đơn nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với bị đơn nên đề nghị Tòa án không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng.
Về con chung: nguyên đơn và bị đơn có 03 con chung Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1995, Nguyễn Thị Đi N1, sinh năm 1998 và Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1999, cả 03 con chung đều đã trưởng thành.
Tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc ông Nguyễn Ngọc H yêu cầu ly hôn với bà Lương Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
- Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: nguyên đơn và bị đơn chung sống từ năm 1994 nhưng không có đăng ký kết hôn, đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau trong một thời gian dài, bị đơn đã nhiều lần nhận được giấy triệu tập nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến, không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 06 năm 2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”;
Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng.
- Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số 45, quyển số 01/99; giấy khai sinh số 46, quyển số 01/99 và giấy khai sinh số 104, quyển số 1/99 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có 03 con chung Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1995, Nguyễn Thị Đi N1, sinh năm 1998 và Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1999. Các con chung đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 06 năm 2000 của Quốc Hội;
Căn cứ các Điều 14, 15, 16 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: không công nhận ông Nguyễn Ngọc H và bà Lương Thị D là vợ chồng.
Về con chung: ông Nguyễn Ngọc H và bà Lương Thị D có 03 con chung Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1995, Nguyễn Thị Đi N1, sinh năm 1998 và Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1999. Các con chung đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Ngọc H phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0019046 ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Ngọc H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 634/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 634/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
