TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 634/2024/HNGĐ-ST Ngày 10/9/2024 V/v: “Tranh chấp về ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lưu Thị Kim Hiền
- Bà Đỗ Thị Sỹ Long
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 435/2024/TLST – HN&GĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 301/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 180/2024/QĐST - HPT ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1985; ĐKHKTT: Số I Dãy G – Tập thể Trung cấp Kinh tế, phường P quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Ngõ A (C) N, phường P, quận B, thành phố Hà Nội.(Có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1981; ĐKHKTT: Số I Dãy G – Tập thể Trung cấp Kinh tế, phường P quận B, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Ngõ A (C) N, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Vũ Thị N trình bày như sau:
Về tình cảm: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 07 năm 2003 tại UBND phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Anh, chị đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Chị N thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thành C.
Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C có 02 con chung là: Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 và Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007. Con Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị N không yêu cầu anh Nguyễn Thành C phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nhà ở: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về khoản nợ: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng của Tòa án. Tuy nhiên anh Nguyễn Thành C đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Thành C vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng Điều 28, 35, 39, 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các văn bản tố tụng tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 179; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định tại Điều 63; điểm b khoản 2 Điều 227 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- + Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 58; 63; 70 và điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị N. Chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành C. Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị N về việc nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007 cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh C không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 đã đủ tuổi trưởng thành, không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Vũ Thị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.
Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn là chị Vũ Thị N có đơn xin ly hôn đối với anh Nguyễn Thành C; Trú tại: : Ngõ A (C) N, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý, giải quyết, xét xử là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn. Anh Nguyễn Thành C đã được triệu tập lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 07 năm 2003 tại UBND phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống chị N khẳng định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, mâu thuẫn của chị N và anh C đã rất trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ.
Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng chung thủy thương yêu nhau, tôn trọng danh dự và uy tín cho nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Rõ ràng cuộc hôn nhân của chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C không đạt được mục đích đó. Chị N và anh C đã sống ly thân, chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không thể, chị N làm đơn xin ly hôn anh C là phù hợp với quy định của pháp luật theo các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Vì vậy chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị N.
Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C có 02 con chung là: Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 và Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007. Chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007. Con Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị N không yêu cầu anh Nguyễn Thành C phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng của chị N là có căn cứ được chấp nhận vì thực tế chị N vẫn đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007. Con Nguyễn Kim D cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng chị N. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Thành C cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Anh C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 đã đủ tuổi trưởng thành, chị N không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Vũ Thị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết. Giành quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung khi chị Vũ Thị N, anh Nguyễn Thành C có đơn yêu cầu.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Chị Vũ Thị N phải chịu án phí sơ thẩm.
Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ và nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;
- - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị N;
- Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Nguyễn Thành C có hai con chung là: Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 và Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007. Giao con Nguyễn Kim D, sinh ngày 31/07/2007 cho chị Vũ Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Thành C cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Anh Nguyễn Thành C có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản. Con Nguyễn Anh T, sinh ngày 30/11/2003 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung: Chị Vũ Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Giành quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác về tài sản chung, nhà ở chung và nợ chung khi chị Vũ Thị N, anh Nguyễn Thành C có đơn yêu cầu.
- Về án phí: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Vũ Thị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0030256 ngày 26 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Chị Vũ Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 634/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 634/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp ly hôn
