|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 634/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2025
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.
Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc;
- Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 127/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 265/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 28/3/1989; Số CCCD: [...] cấp ngày 10/8/2021.
Địa chỉ thường trú: Tổ A, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số F đường B, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Kim T có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh ngày 20/6/1989; Số CCCD: [...] cấp ngày 26/01/2016.
Địa chỉ thường trú: Số B đường D, Tổ A, ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Văn H vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn xin ly hôn ngày 12 tháng 11 năm 2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày sự việc như sau:
Bà (Nguyễn Thị Kim T) và ông Trần Văn H tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2009, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp ngày 05/3/2009.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chúng bà chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm, hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông H đi nhậu về thường xuyên kiếm chuyện vô cớ. Bà và ông H đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Sau khi ly thân, bà sống ở phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân do hai bên đã không thể hòa giải, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên là Trần Thị Diễm M, sinh ngày 10/6/2009 và Trần Văn V, sinh ngày 29/3/2016. Con chung hiện tại đang ở với ông H. Khi ly hôn, bà đồng ý giao 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Văn V, sinh ngày 29/3/2016 số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 7/2025 cho đến khi cháu Trần Văn V đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Bà T xác định không có.
Về nợ chung: Bà T xác định không có.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Văn H không có mặt nên không có lời khai của ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ án ông Trần Văn H có địa chỉ tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số: 127/TB-TA ngày 20/02/2025; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải kèm giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2025 kèm giấy triệu tập; Quyết định hoãn phiên tòa số: 265/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2025 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Văn H vắng mặt, không rõ lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Trần Văn H, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Trần Văn H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2009, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/3/2009, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà T khai rằng sau khi kết hôn, vợ chồng chúng bà chung sống với nhau hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm, hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông H đi nhậu về thường xuyên kiếm chuyện vô cớ. Bà và ông H đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Sau khi ly thân, bà sống ở phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân do hai bên đã không thể hòa giải, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông H có nhiều mâu thuẫn. Tại phiên tòa, bà T vẫn cương quyết xin ly hôn với ông H vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể kéo dài; mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, ông H cũng không có mặt mà không rõ lý do, điều này thể hiện ông H không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T.
Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà T và ông H không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà T là có cơ sở.
- Về con chung:
Bà T và ông H có 02 con chung tên là Trần Thị Diễm M, sinh ngày 10/6/2009 và Trần Văn V, sinh ngày 29/3/2016. Con chung hiện tại đang sống với ông H. Khi ly hôn, bà T đồng ý giao hai con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét thấy, do hai con chung của bà T và ông H có nguyện vọng được sống với ông H, bà T cũng đồng ý để 02 con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Do ông H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nên không có lời khai của ông H về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc bà T cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Văn V, sinh ngày 29/3/2016 số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng)/tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 7/2025 cho đến khi cháu Trần Văn V đủ 18 tuổi.
Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà T được quyền thăm con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung:
Bà T khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà T khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí:
Bà T phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T.
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Kim T được quyền ly hôn với ông Trần Văn H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/2009 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà T và ông H ngày 05/3/2009, không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Giao 02 con chung tên Trần Thị Diễm M, sinh ngày 10/6/2009 và Trần Văn V, sinh ngày 29/3/2016 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Văn V, sinh ngày 29/3/2016 số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 7/2025 cho đến khi cháu Trần Văn V đủ 18 tuổi.
Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà T được quyền thăm con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung:
Bà T khai không có tài sản chung nên không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà T khai không có nghĩa vụ dân sự chung nên không xét.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Án phí ly hôn buộc bà T phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng); án phí về cấp dưỡng nuôi con buộc bà T phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng); nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0063602 ngày 18/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà T còn phải nộp án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (ông Trần Văn H) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hương |
Bản án số 634/2025/HNGĐ-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 634/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn đơn phương
