|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 634/2024/HS-ST. Ngày 22 -11 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.
Bà Vương Thị Khánh Loan.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 631/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 627/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo: Nguyễn Tích Đ, sinh năm 1980, tại Thái Nguyên (có mặt); Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái T, sinh năm 1934 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1945; vợ bà Phan Thị Thúy H, sinh năm 1982; có 02 con cùng sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1977 (chết ngày 31/12/2023).
Người đại diện hợp pháp bị hại: Bà Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ thường trú: Tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Tổ H, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần M.
Trụ sở: Số D, đường B, khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1969 (có mặt). (Văn bản ủy quyền ngày 31/12/2023).
Địa chỉ: 3, đường T, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tích Đ, sinh năm 1980, nơi thường trú: Tổ B, khu phố B, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai là công nhân Công ty cổ phần M1 (có hợp đồng lao động) được Công ty phân công phó ca kiêm quản lý trực tiếp tổ treo hàng và vận hành thiết bị nâng. Đ có chứng chỉ nghề đào tạo lái xe nâng hàng do Trường trung cấp nghề tỉnh B cấp số 09006432 ngày 31/7/2013, đã được cấp thẻ tập huấn an toàn lao động về lái xe nâng số 11762/2022/TATLĐ ngày 25/5/2022 có giá trị đến ngày 25/5/2024. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, tại xưởng mạ kẽm Công ty cổ phần M, Nguyễn Tích Đ cùng công nhân Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, nơi thường trú: Tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; anh Nguyễn Lê K, sinh năm 1989, trú tại: C, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và anh Lê Hồng Q, sinh năm 1981, trú tại: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cùng thực hiện công việc treo hàng tại xưởng, Đ điều khiển xe nâng hàng mã hiệu 50D-7AE nâng một bó gồm 06 thanh kẽm hình chữ V, dài 9,44m, trọng lượng 796kg lên cao khoảng 1,7m vận chuyển từ bãi hàng đến khu vực treo hàng. Đ quan sát thấy anh C, anh K và anh Q đứng cách vị trí treo hàng 07m nên Đ điều khiển xe nâng đưa bó thanh kẽm vào vị trí treo hàng. Khi Đ điều khiển xe nâng vừa đến khu vực treo hàng thì thấy C đứng bên trái quay lưng về phía Đ cách đầu bên trái bó thép khoảng 03m, nhưng do Đ điều khiển xe nâng quay về bên phải nên làm bó thép mất thăng bằng nghiêng bên trái rồi trượt vào lưng C. Thấy vậy, Đ nhanh chóng hạ càng xe nâng xuống cách mặt đất khoảng 50cm, một đầu bó thép bên phải vẫn ở trên càng xe nâng, một đầu bó thép tuột xuống đè lên lưng C dẫn đến tử vong.
Sự việc được trình báo Công an xử lý theo quy định pháp luật, tại Cơ quan điều tra Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 xe nâng hàng mã hiệu 50D-7AE, số chế tạo HHKHFV13VD0000710 đây là tài sản của Công ty cổ phần M1 đã được trao trả cho ông Đinh Văn T1 (đại diện Công ty cổ phần M).
Kết quả khám nghiệm hiện trường tai nạn lao động ngày 31/12/2023 của Công an thành phố B, đã xác định: Hiện trường xảy ra vụ việc tại khu vực mã kẽm thuộc Công ty V, khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại vị trí xảy ra vụ việc ghi nhận 02 giày màu đen, 01 dấu vết máu dạng quệt trên kệ kim loại màu vàng. Cách vị trí xảy ra vụ việc 5,1m về phía Nam ghi nhận 01 xe nâng hiệu HUYNDAI màu vàng. Mở rộng khám nghiệm tại vị trí trong Bồn mạ ghi nhận 06 thanh kim loại hình chữ V dày 8mm, 120mm dài 9,44m. Ngoài ra, quá trình khám nghiệm không phát hiện, ghi nhận gì thêm.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 2946/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: Bên ngoài thấy xây sát hằn tím da vùng mặt, vùng ngực-bụng, hằn tím da vùng vai và lưng-hông, xây sát hằn tím da vùng chân, gãy kín xương đùi. Giải phẫu thấy tụ máu dưới da vùng ngực, gãy giữa xương ức, gãy đa cung xương sườn hai bên, trong khoang lồng ngực và ổ bụng có máu, dập rách và tụ máu màng phổi, rách bao màng tim và rách cơ tim, vỡ rạn thuỳ gan phải.
Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương; chấn thương ngực – bụng kín gãy xương ức, gãy xương sườn, dập rách màng phổi, rách phức tạp cơ tim, vỡ ran gan/gãy kín xương đùi.
Kết quả giám định tình trạng an toàn kỹ thuật của xe nâng mã hiệu 50D-7AE kết luận:
- - Xe nâng có hệ thống phanh, lái và các chi tiết nâng hạ hoạt động bình thường, không bị hư hỏng.
- - Nguyên nhân gây nên sự cố rơi thanh kẽm là do các thanh kẽm trên càng xe nâng bị mất cân bằng khi nâng thanh kẽm lên.
- - Tầm cao hai càng của xe nâng là 1m70 đang vận chuyển hàng là 06 thanh kẽm có tổng tải trọng là 796kg không phải là nguyên nhân dẫn đến thanh kẽm rơi, hoạt động nâng hàng trên không vi phạm về tải trọng cho phép của xe nâng.
Kết quả xác minh an toàn lao động đối với vụ tai nạn xảy ra ngày 31/12/2023 (Trích Công văn số 124/CV-TTr ngày 28/5/2024 của Thanh tra Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Đ):
- - Công ty cổ phần M1 thực hiện đúng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động theo quy định.
- - Nguyễn Tích Đ là Phó ca quản lý tổ treo hàng chưa làm tròn trách nhiệm được giao trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định tại Điều 17 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015.
- - Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Tích Đ và Công ty cổ phần M1 - VNSTEEL đã hỗ trợ, bồi thường cho gia đình bị hại anh Nguyễn Văn C tổng số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng), trong đó bị cáo Đ tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), Công ty bồi thường 250.000.000đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình anh C có đơn bãi nại, cam kết không thắc mắc khiếu nại gì về dân sự.
Bản cáo trạng số: 601/CT-VKSBH ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Tích Đ về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tích Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, tại xưởng mạ kẽm Công ty cổ phần mạ kẽm công nghiệp VINGAL-VNSTEEL, bị cáo Nguyễn Tích Đ là phó ca, quản lý tổ treo hàng có hành vi khi điều khiển xe nâng một bó gồm 06 thanh kẽm hình chữ V có trọng lượng 796kg, không đảm bảo an toàn để cho thanh kẽm mất thăng bằng nghiêng bên trái trượt xuống đè lên lưng anh Nguyễn Văn C là công nhân của Công ty cổ phần mạ kẽm công nghiệp VINGAL-VNSTEEL tử vong.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Tích Đ đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 03/10/2024). Ông Nguyễn Thái T là cha bị cáo được tặng huân chương kháng chiến hạng Ba đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; bà Nguyễn Thị S là mẹ bị cáo được tặng huy chương kháng chiến hạng Nhất đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Tích Đ và Công ty cổ phần M đã hỗ trợ, bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Văn C tổng số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng), trong đó bị cáo Nguyễn Tích Đ tự nguyện bồi thường số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), Công ty T2 cổ phần mạ kẽm công nghiệp VINGAL-VNSTEEL hỗ trợ, bồi thường số tiền 250.000.000đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình anh Nguyễn Văn C có đơn bãi nại, cam kết không thắc mắc khiếu nại về dân sự.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tích Đ phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tích Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 22/11/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Tích Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
Bản án số 634/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 634/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Tích Đức phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”
