|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 633/2024/HS-ST Ngày: 26/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm
Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thanh Thủy
Bà Nguyễn Thị Hải Yến
Ông Nguyễn Hồ Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hương, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 470/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 503/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Phùng Văn M, sinh năm 1991.
ĐKHKTT: Đội 4, thôn S, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị X; có vợ Hoàng Thị N1 (bị cáo khai tại phiên tòa: có 02 con gồm con riêng sinh năm 2012 và con chung với chị N1 sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa;
D chỉ bản số [...] lập ngày 21/11/2023 tại Công an thị xã S, thành phố Hà Nội.
* Người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn M:
- Ông Trần Khắc T, Luật sư của Văn phòng L7, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; vắng mặt tại phiên tòa;
- Ông Nguyễn Quang T1, Luật sư của Văn phòng L8 và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt tại phiên tòa;
* Bị hại:
- Chị Đàm Thị L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số I đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa;
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số A phố Đ, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;
- Chị Bùi Thị Thùy L1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số D ngõ C đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa;
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thị N1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Đ, thôn S, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Văn M (sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội) là lao động tự do, không có thu nhập, để có tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân, M đã nảy sinh ý định thông qua mạng xã hội Facebook và Z để lừa đảo chiếm đoạt tài sản những người có nhu cầu tìm việc làm. Khoảng tháng 5/2023, M lập tài khoản Facebook mang tên “Ngoc A” và đăng tải thông tin với nội dung: “Tuyển nhân viên nữ làm công việc massage cho khách hàng người Hàn Quốc, thu nhập từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng/tháng”, các cá nhân có nhu cầu đi làm phải nộp tiền chi phí làm chứng chỉ hành nghề, chi phí để được làm quản lý, lo thủ tục giấy tờ... Đồng thời, M mua nhiều sim “rác” điện thoại và lập ra 05 tài khoản mạng xã hội Z gồm: Phạm Thị Thu H1 (đổi thành Hương P), Kiếp Phong B (đổi thành Anh N2), Nguyễn Hoài T2, Hoa Lưu L2, Ngọc L3 với mục đích: Khi có người liên hệ muốn xin việc làm, M sẽ sử dụng các tài khoản Zalo trên để cung cấp thông tin gian dối về việc tuyển dụng để những người có nhu cầu tìm việc làm tin tưởng chuyển tiền theo yêu cầu của M. Để có tài khoản ngân hàng T7 nhận tiền, M đã mượn 15 tài khoản của những người quen, bạn bè, họ hàng... và cung cấp số tài khoản cho các bị hại chuyển tiền đến để họ không nghi ngờ; các tài khoản trung gian sau khi nhận được tiền sẽ chuyển toàn bộ số tiền nhận được đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0908868091 và tài khoản Ngân hàng V số [...] đều mang tên Phùng Văn M.
Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 11/2023, Phùng Văn M đã sử dụng thủ đoạn gian dối trên và chiếm đoạt tài sản của 03 bị hại với tổng số tiền là 583.480.000 đồng. Hành vi cụ thể như sau:
1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt 516.480.000 đồng của chị Đàm Thị L (sinh năm 1986, trú tại Số I đường G, phường G, quận H, thành phố Hà Nội).
Khoảng cuối tháng 5/2023, chị Đàm Thị L thấy tài khoản Facebook “Ngoc Anh” đăng tải nội dung “Tuyển nhân viên massage cho người Hàn Quốc với thu nhập từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng/tháng”. Chị L đã liên hệ với tài khoản trên do M lập ra. M hướng dẫn chị L kết bạn với nhiều tài khoản Zalo khác nhau để trao đổi về việc tuyển chọn nhân viên làm việc, sau khi chị L chuyển chi phí sẽ được cấp giấy phép hành nghề, sẽ được nhận vào làm các công việc khác nhau trong hệ thống quản lý massage cho người Hàn Quốc với thu nhập cao. Chị L tin tưởng thông tin M giới thiệu, trong khoảng thời gian từ ngày 24/6/2023 đến ngày 07/11/2023, chị L đã nhiều lần chuyển tiền với tổng số là 516.480.000 đồng đến các tài khoản ngân hàng trung gian theo yêu cầu của các tài khoản Zalo mà M quản lý và sử dụng.
Sau khi nhận được tiền của chị L, các tài khoản trung gian đều chuyển lại tiền đến tài khoản số 0908868091 mở tại Ngân hàng M1; tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V đều mang tên Phùng Văn M. Sau đó, M rút tiền mặt hoặc chuyển khoản chi tiêu cá nhân hết, không sử dụng vào mục đích nhận xin việc.
Trong thời gian hứa hẹn chờ cấp chứng chỉ, để chị L không nghi ngờ, M đã chuyển trả cho chị L 3.850.000 đồng với lý do hỗ trợ sinh hoạt.
Theo thời hạn cam kết, chị L không được nhận đi làm, không nhận được giấy tờ hành nghề như M đã hứa hẹn. Ngày 12/11/2023, chị L đã làm đơn tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của Phùng Văn M đến Công an thị xã S. Chị L yêu cầu M bồi thường số tiền 512.630.000 đồng.
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt 55.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1988, trú tại Số A phố Đ, phường M, quận N, thành phố Hà Nội).
Khoảng tháng 10/2023, thông qua chị Đàm Thị L giới thiệu, Phùng Văn M biết chị Nguyễn Thị H cũng đang có nhu cầu tìm việc. M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị H. Với thủ đoạn tương tự như trên, ngày 01/11/2023, M sử dụng tài khoản Zalo “Hương Pi” để liên lạc, hứa hẹn nhận chị Nguyễn Thị H làm nhân viên massage cho người Hàn Quốc và giao cho chị Hải vị T3 làm người quản lý toàn bộ nhân viên khu vực Hà Nội với mức thu nhập cao. Tin tưởng thông tin M đưa ra là thật nên ngày 05/11/2023 và ngày 08/11/2023 chị H đã 02 lần chuyển tổng số tiền 55.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng A2 số 2203205354723 mang tên Đỗ Thị L4 theo yêu cầu của M. Tài khoản trung gian đã chuyển số tiền này đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0908868091 của Phùng Văn M. Sau khi nhận được số tiền trên, M đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, không sử dụng để xin việc cho chị H như cam kết.
Sau đó, chị Nguyễn Thị H không được nhận đi làm như Phùng Văn M hứa hẹn nên ngày 04/12/2023, chị H đã trình báo sự việc đến Công an thị xã S. Chị H yêu cầu M bồi thường 55.000.000 đồng.
3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt 12.000.000 đồng của chị Bùi Thị Thùy L1 (sinh năm 1990, trú tại Số D ngõ C đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội).
Khoảng tháng 6/2023, chị Bùi Thị Thùy L1 tìm hiểu và thấy tài khoản Facebook “Ngoc Anh” đăng tải thông tin: “Tuyển nhân viên nữ làm công việc massage cho khách hàng người Hàn Quốc, thu nhập từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng/tháng”. Do có nhu cầu tìm việc làm nên chị L1 đã chủ động kết bạn với tài khoản Facebook này (do Phùng Văn M lập). M yêu cầu chị L1 liên lạc với tài khoản Zalo tên “Hương Pi”. Phùng Văn M sử dụng tài khoản Zalo này và giới thiệu tên H1 làm Tổng quản lý toàn bộ hệ thống massage, nếu chị L1 muốn được nhận đi làm công việc massage cho người Hàn Quốc thì liên hệ với tài khoản Zalo “Anh N2”. Sau khi chị L1 kết bạn với “Anh N2” và được giới thiệu tên là N2, là trợ lý của H1 (tức M). Tài khoản này sẽ kiểm tra, tuyển dụng chị L1 đi làm.
Ngày 19/6/2023, M lấy danh nghĩa tên “Nam” và gặp trực tiếp chị L1 tại phường V, thị xã S, thành phố Hà Nội. M nói với chị L1 muốn được nhận đi làm, phải mua chứng chỉ hành nghề do Hàn Quốc cấp với chi phí là 9.000.000 đồng. Chị L1 đồng ý. Theo hướng dẫn của M, ngày 22/6/2023, chị L1 đã chuyển 9.000.000 đồng đến tài khoản số 2220115042000 mang tên Vũ Thị Ly L5 mở tại ngân hàng M1 để mua chứng chỉ hành nghề.
Sau đó, chị L1 liên lạc với tài khoản Zalo “Hương Pi” hỏi về chứng chỉ hành nghề, M (tức “Hương P”) đã gian dối đưa ra nội dung thông tin: “Chứng chỉ hành nghề của chị L1 đã bị thất lạc, nếu muốn được cấp lại, chị L1 phải chi phí thêm 30.000.000 đồng, “Hương Pi” sẽ hỗ trợ 2/3 tổng số tiền này cho chị L1”. Chị L1 nói chỉ có 3.000.000 đồng, M cũng đồng ý và hướng dẫn chị L1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do M cung cấp. Ngày 09/11/2023, chị L1 đã chuyển số tiền trên đến tài khoản số 8991111991 mang tên Hoàng Thị N1 mở tại ngân hàng M1.
Sau đó các tài khoản trung gian mang tên Vũ Thị Ly L5 và Hoàng Thị N1 đã chuyển 12.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0908868091 của M. Sau đó, M đã sử dụng chi tiêu cá nhân. M không mua chứng chỉ hành nghề cho chị L1 như cam kết.
Ngoài ra, ngày 07/8/2023, M sử dụng tài khoản Zalo “Anh N2” vay của chị L1 1.000.000 đồng, chị L1 đã chuyển khoản 1.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M1 mang tên Hoàng Thị N1. Trong thời gian hứa hẹn chờ cấp chứng chỉ, để chị L1 không nghi ngờ, M đã chuyển trả cho chị L1 5.800.000 đồng với lý do hỗ trợ sinh hoạt.
Ngày 06/12/2023, chị L1 đã làm đơn tố giác sự việc đến Công an thị xã S và yêu cầu M bồi thường 7.200.000 đồng.
Sao kê tài khoản ngân hàng xác định: thông qua các tài khoản trung gian, Phùng Văn M đã nhận của chị Đàm Thị L số tiền 516.480.000 đồng; nhận của chị Nguyễn Thị H số tiền 55.000.000 đồng và nhận của chị Bùi Thị Thùy L1 số tiền 12.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Phùng Văn M khai nhận: Do cần tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân nên M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị Đàm Thị L, chị Bùi Thị Thùy L1 và chị Nguyễn Thị H bằng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin giới thiệu việc làm massage cho khách Hàn Quốc với mức lương từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng/tháng. M tự giới thiệu bản thân là quản lý hệ thống massage trên phạm vi cả nước và dùng tên Z “Hương Pi”, khi quản lý khu vực Hà Nội sử dụng Zalo “Anh N2”. Để chiếm đoạt tiền của bị hại, M yêu cầu các bị hại chuyển tiền để làm chứng chỉ hành nghề, làm căn cước công dân giả, mua vé máy bay, làm hồ sơ bổ nhiệm quản lý... Sau khi nhận được tổng số tiền là 583.480.000 đồng của 03 bị hại thông qua các tài khoản trung gian, M không thực hiện như cam kết mà sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Các chủ tài khoản trung gian không biết M mượn tài khoản để chiếm đoạt tiền của các bị hại, không được hưởng lợi.
Đối với 15 cá nhân đứng tên tài khoản trung gian, quá trình điều tra xác định: Chị Hoàng Thị N1 (sinh năm: 1991, trú tại: đội D thôn S, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội) là vợ của Phùng Văn M chỉ được M nhờ mượn tài khoản của người khác để nhận tiền, không biết nguồn gốc số tiền chuyển đến, không biết mục đích chuyển tiền. Đối với các cá nhân đứng tên 14 tài khoản trung gian gồm: chị Nguyễn Thu T4 (sinh năm 1999, trú tại thôn Q, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội), chị Phùng Thị Huyền N3 (sinh năm 2002, trú tại D ngõ P, phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội), chị Hà Thị Thu H2 (sinh năm 1996, trú tại số H phố T, phường S, thị xã S, thành phố Hà Nội), chị Vũ Thị Ly L5 (sinh năm 2000, trú tại số E tổ dân phố V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội), chị Trịnh Thị X1 (sinh năm 1972, trú tại xóm F thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội), chị Lê Thị H3 (sinh năm 1976, trú tại thôn Đ, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội), chị Bùi Thị Y (sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội), chị Nguyễn Thị Thu L6 (sinh năm 1994, trú tại số A phố C, phường Q, thị xã S, thành phố Hà Nội), anh Lã Văn T5 (sinh năm 1983, trú tại đội 2 thôn S, xã Y, huyện Q, thành phố Hà Nội), chị Đỗ Thị L4 (sinh năm 1986, trú tại đội 5 thôn B, xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội), anh Nguyễn Văn H4 (sinh năm 1988, trú tại đội 5 thôn B, xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội), anh Nguyễn Văn H5 (sinh năm 1986, trú tại đội 5 thôn B, xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội), chị Nguyễn Thị Ngọc A1 (sinh năm 1995, trú tại đội 5 thôn B, xã H, huyện Q, thành phố Hà Nội), chị Nguyễn Thị T6 (sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội). Các cá nhân này đều có mối quan hệ họ hàng, bạn bè với M và chị Hoàng Thị N1, được M nhờ nhận tiền qua tài khoản, sau đó đã chuyển khoản hoặc chuyển tiền mặt lại cho M, không được hưởng lợi, không biết mục đích phạm tội của M nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với các cá nhân này.
Cáo trạng số 437/CT-VKS-P3 ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phùng Văn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phùng Văn M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Bị hại chị Đàm Thị L và chị Bùi Thị Thùy L1 khai nhận bị Phùng Văn M sử dụng thủ đoạn để lừa đảo chiếm đoạt tài sản đúng với nội dung như cáo trạng đã xác định. Các bị hại yêu cầu bị cáo Phùng Văn M bồi thường số tiền đã chiếm đoạt và đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng truy tố bị cáo Phùng Văn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Phùng Văn M từ 12 - 13 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: xét tính chất phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 573.830.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Oppo màu đen đã thu giữ của bị cáo Phùng Văn M do bị cáo sử dụng làm phương tiện trong quá trình phạm tội; trả lại chị Hoàng Thị N1 01 điện thoại Iphone.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phùng Văn M nhất trí với quan điểm truy tố về tội danh mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố đối với bị cáo. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự, đã có ý thức trả lại một phần tiền đã chiếm đoạt cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Phùng Văn M theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Cụ thể, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 10-12 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập nhưng bị hại chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa, chị H vắng mặt nhưng đã có lời khai và ý kiến trong quá trình điều tra. Xét thấy sự vắng mặt của chị H không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, do đó căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
[3]Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn M thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân, Phùng Văn M nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của những người có nhu cầu tìm việc lương cao. Thông qua mạng Internet, M đưa ra thông tin gian dối giới thiệu trên trang Facebook về việc M đang làm quản lý hệ thống massage trên phạm vi cả nước, cần tuyển dụng nhân viên nữ làm công việc massage cho khách Hàn Quốc với thu nhập từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng/tháng; M yêu cầu bị hại chuyển tiền để làm chứng chỉ hành nghề, mua vé máy bay, làm hồ sơ bổ nhiệm quản lý... Tin tưởng thông tin M đưa ra là thật, từ tháng 6/2023 đến ngày 08/11/2023, chị Đàm Thị L, chị Nguyễn Thị H và chị Bùi Thị Thùy L1 đã chuyển tổng số tiền 583.480.000 đồng cho M thông qua các tài khoản trung gian. Sau khi nhận được số tiền trên, M không thực hiện như cam kết mà chiếm đoạt để sử dụng trả nợ, chi tiêu cá nhân hết. M mới trả chị Bùi Thị Thùy L1 số tiền 5.800.000 đồng, trả chị Đàm Thị L số tiền 3.850.000 đồng, hiện M còn chưa khắc phục hậu quả số tiền 573.830.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Phùng Văn M đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Cáo trạng số 437/CT-VKS-P3 ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phùng Văn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh để trừng trị, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong đời sống xã hội.
Bị cáo Phùng Văn M nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã có ý thức trả lại một phần số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, cải tạo đối với bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm.
[5]Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất vụ án và hoàn cảnh gia đình của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Phùng Văn M bồi thường tổng số tiền 573.830.000 đồng còn chiếm đoạt của các bị hại, cụ thể như sau:
- Trả lại chị Đàm Thị L số tiền 512.630.000 đồng.
- Trả lại chị Nguyễn Thị H số tiền 55.000.000 đồng.
- Trả lại chị Bùi Thị Thùy L1 số tiền 6.200.000 đồng.
[7]Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng là tài sản có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Phùng Văn M, Hội đồng xét xử nhận thấy cần xử lý như sau:
- Đối với 01 điện thoại di động Oppo màu đen, đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo Phùng Văn M sử dụng để liên lạc trong quá trình phạm tội, cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone là tài sản của chị Hoàng Thị N1, do chị N1 không biết và không đồng phạm với Phùng Văn M nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại tài sản này cho chị N1.
[8]Bị cáo Phùng Văn M được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày bị tạm giữ, tạm giam được tính trừ một ngày tù.
[9]Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Phùng Văn M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phùng Văn M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Phùng Văn M 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/11/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự:
Buộc bị cáo Phùng Văn M bồi thường tổng số tiền 573.830.000 (Năm trăm bảy mươi ba triệu tám trăm ba mươi nghìn) đồng cho các bị hại, cụ thể như sau:
- Trả lại chị Đàm Thị L số tiền 512.630.000 (Năm trăm mười hai triệu sáu trăm ba mươi nghìn) đồng.
- Trả lại chị Nguyễn Thị H số tiền 55.000.000 (Năm mươi lăm triệu) đồng.
- Trả lại chị Bùi Thị Thùy L1 số tiền 6.200.000 (Sáu triệu hai trăm nghìn) đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất phát sinh trên số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Oppo màu đen, đã qua sử dụng IMEI 1: 8603540451559712; IMEI 2: 860354045159704; màn hình bị vỡ (không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).
- Trả lại chị Hoàng Thị N1: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, đã qua sử dụng, số máy NQ8V2LL/A; số Seri: F2LVF86QJCM4 màu hồng nhạt (không kiểm tra được chất lượng và tình trạng hoạt động).
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội ngày 29/7/2024).
4. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phùng Văn M phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 26.953.200 (Hai mươi sáu triệu chín trăm năm mươi ba nghìn hai trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Phùng Văn M, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26/9/2024.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: - Công an thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - THADS thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Tâm |
Bản án số 633/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 633/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân, Phùng Văn Minh nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của những người có nhu cầu tìm việc lương cao. Thông qua mạng Internet, Minh đưa ra thông tin gian dối giới thiệu trên trang Facebook về việc Minh đang làm quản lý hệ thống massage trên phạm vi cả nước, cần tuyển dụng nhân viên nữ làm công việc massage cho khách Hàn Quốc với thu nhập từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng/tháng; Minh yêu cầu bị hại chuyển tiền để làm chứng chỉ hành nghề, mua vé máy bay, làm hồ sơ bổ nhiệm quản lý… Tin tưởng thông tin Minh đưa ra là thật, từ tháng 6/2023 đến ngày 08/11/2023, chị Đàm Thị Luyến, chị Nguyễn Thị Hải và chị Bùi Thị Thùy Linh đã chuyển tổng số tiền 583.480.000 đồng cho Minh thông qua các tài khoản trung gian. Sau khi nhận được số tiền trên, Minh không thực hiện như cam kết mà chiếm đoạt để sử dụng trả nợ, chi tiêu cá nhân hết. Minh mới trả chị Bùi Thị Thùy Linh số tiền 5.800.000 đồng, trả chị Đàm Thị Luyến số tiền 3.850.000 đồng, hiện Minh còn chưa khắc phục hậu quả số tiền 573.830.000 đồng.
