Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 633/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/8/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn giữa

bà Bích và ông Mai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
  2. Bà Thái Thục Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Trinh – Thư ký của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 914/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc B, sinh năm 1967 (có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số 521/44 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Bị đơn: Ông Trần Hữu M, sinh năm 1964 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số A Đường số C B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2023 cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc B trình bày:

Bà B và ông Trần Hữu M tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 02/11/1995 tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 110/HT. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì đến năm 2012, hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông M có quan hệ không đúng mực với người phụ nữ khác. Dù đã nhiều lần tạo cơ hội cho ông M thay đổi để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng cuối cùng vẫn không đạt được kết quả đến nay bà và ông M đã không còn tình cảm và không còn sống chung với nhau. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, gia đình không hạnh phúc nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông M.

Trong quá trình chung sống, bà B và ông M có 02 con chung tên Trần Đại T, sinh ngày 12/10/1996 và Trần Lê Thị Quỳnh A, sinh ngày 04/7/2004. Hai con chung đã trưởng thành. Về tài sản chung, bà B tự thỏa thuận với ông M và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung, bà B tự khai giữa bà và ông M không vay nợ gì của ai.

Bị đơn ông Trần Hữu M đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông M vẫn vắng mặt. Vì vậy Tòa án không thu thập được lời khai của ông M và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay: Bà Lê Thị Ngọc B có đơn xin xét xử vắng mặt và bà B vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, cụ thể bà B yêu cầu được ly hôn với ông M; bà xác định bà và ông M có 02 con chung đã trưởng thành tên Trần Đại T, sinh ngày 12/10/1996 và Trần Lê Thị Quỳnh A, sinh ngày 04/7/2004; về tài sản chung và nợ chung bà vẫn giữ lời trình bày thể hiện trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và xét xử Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn bà B chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn ông M chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Ngọc B, do bà B và ông Lê Hữu M1 có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 110/HT tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/11/1995. Nay bà B có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông M1 nên xác định đây là tranh chấp ly hôn theo yêu cầu một bên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có nhận được Đơn yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án đề ngày 12/12/2023 của ông M1 gửi qua dịch vụ bưu chính. Trong đơn, ông M1 yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 8 chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp để giải quyết theo thẩm quyền. Vì lý do, mặc dù ông có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số A đường số C B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế ông thường xuyên sinh sống và cư trú tại địa chỉ 1 Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Để có cơ sở giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, Tòa án đã có Công văn xác minh nơi cư trú của ông M1 tại Công an P, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp và Công an P1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, kết quả xác minh có nội dung như sau: “Đương sự Trần Hữu M, sinh năm 1964 không có thực tế cư trú, thường xuyên sinh sống tại địa chỉ số: 124/13 Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Hiện nay, đương sự Trần Hữu M không có mặt tại địa phương”; “Đương sự Trần Hữu M, sinh năm 1964 có hộ khẩu thường trú: 16 đường số C B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự M có thực tế ở tại địa chỉ trên”.

Căn cứ vào kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền có cơ sở để xác định bị đơn ông Trần Hữu M có nơi cư trú tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về tố tụng:

Bị đơn ông Trần Hữu M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông M theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc B có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Bà B và ông M sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/11/1995 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 110/HT, nên xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà B, bà B trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012, hiện tại không còn sống chung với nhau, vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương lẫn nhau. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc nên bà B yêu cầu được ly hôn.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã có công văn xác minh ngày 03/05/2024 tại Ủy Ban Nhân Dân Phường E, Quận H về mâu thuẫn gia đình giữa bà B và ông M, công văn nhắc nhở trả lời xác minh ngày 16/07/2024, nhưng cho đến nay vẫn chưa nhận được kết quả xác minh của Ủy Ban Nhân Dân Phường E, Quận H, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ tiếp tục giải quyết đối với vụ án.

Xét thấy ông M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông M vẫn vắng mặt và ông M cũng không có mặt tại phiên tòa xét xử, điều này thể hiện ông M không còn tha thiết đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ chồng giữa bà B và ông M không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được, nên yêu cầu ly hôn của bà B cần chấp nhận vì phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Bà B và ông M có 02 con chung tên Trần Đại T, sinh ngày 12/10/1996 và Trần Lê Thị Quỳnh A, sinh ngày 04/7/2004. Hai con chung đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà Bích tự thỏa thuận với ông M, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Bích T1 khai không nợ gì của ai.

[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc B:
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc B được ly hôn với ông Trần Hữu M.
    • Về con chung: Bà Lê Thị Ngọc B và ông Trần Hữu M có 02 con chung tên Trần Đại T, sinh ngày 12/10/1996 và Trần Lê Thị Quỳnh A, sinh ngày 04/7/2004. Hai con chung đã trưởng thành.
    • Về tài sản chung: Bà Lê Thị Ngọc B và ông Trần Hữu M tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • Về nợ chung: Bà Lê Thị Ngọc B xác nhận bà và ông Trần Hữu M không có nợ chung.

    Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Lê Thị Ngọc B phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0036241 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Ngọc B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Bà Lê Thị Ngọc B, ông Trần Hữu M có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính kể từ ngày bản án được giao cho bà B, ông M hoặc được niêm yết hợp lệ.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Ánh Minh

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.8;
  • - Chi cục THADS Q.8;
  • - UBND Phường 13, Quận 10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 633/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 633/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà B yêu cầu ly hôn với ông M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger