Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 633/2024/HS-ST

Ngày 22 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trang Văn Hai

2/ Bà H Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 636/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 629/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

Lương Văn H, sinh năm 1996 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: ấp Tín Nghĩa, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Đạo, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1967; bị cáo có vợ là chị Phạm Thị Cẩm Tiên, sinh năm 1996. Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2013 và con nhỏ nhất sinh năm 2022;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Bị hại: Ông Trần Thái Q, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Số 628A, tổ 35, khu phố 5A, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, Lương Văn H cùng bạn là anh Nguyễn Thành Chung, ngụ tại thôn Tân Hội, xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và anh Phạm Khánh Ninh, ngụ tại xã Hòa Quang Nam, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên đến ăn uống tại quán thịt cầy “Đại An” ở địa chỉ E628A, tổ 35, khu phố 5, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Do điện thoại bị hết pin nên H lấy dây sạc và cục sạc đem đến để trên ghế gỗ trong quán rồi cắm vào ổ điện gắn trên cột nhà để sạc điện thoại. Trong lúc ăn uống, do có điện thoại gọi đến nên H đã rút điện thoại đem về chỗ ngồi để nghe nhưng vẫn để lại dây sạc và cục sạc tại ghế gỗ trong quán. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi tính tiền ra về thì H để quên điện thoại trên bàn nên chị Nguyễn Hồng Hoa, ngụ tại ấp Tân Hiệp, xã Tân Dân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau là nhân viên của quán “Đại An” gọi H lại để đưa điện thoại. Lúc này, H nhớ lại còn đang để quên cục sạc và dây sạc nên đã đi đến vị trí ghế gỗ trong quán để lấy lại thì phát hiện 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S22+ loại 128Gb của anh Trần Thái Q, ngụ tại 628A, tổ 35, khu phố 5A, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa (là khách ăn uống tại quán) đang cắm sạc vào dây sạc điện thoại của H nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi quan sát xung quanh thấy không có ai để ý nên H đã rút dây sạc và lấy chiếc điện thoại của anh Q cầm đưa lên giả vờ nghe điện thoại rồi đi ra nơi để xe mô tô biển số 60B7-847.49 của H. Sau đó, H bỏ chiếc điện thoại trên vào hộc đựng đồ của xe mô tô rồi điều khiển xe đi về chỗ ở của H tại kiot không số, tổ 38, khu phố 5A, phường Long Bình, thành phố Biên Hoà để cất giấu. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, anh Q phát hiện bị mất điện thoại nên đã kiểm tra camera của quán “Đại An” và phát hiện H đã trộm cắp điện thoại nên anh Q đã trình báo Công an phường Long Bình. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường Long Bình kiểm tra hành chính tại nơi ở của H thì phát hiện chiếc điện thoại của anh Q trong hộc đựng đồ trên xe mô tô của H nên Công an phường Long Bình đưa H về làm việc và lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra, xử lý.

- Vật chứng:

  • + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S22+ loại 128Gb, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi và trả lại cho anh Trần Thái Q.
  • + 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60B7-897.49, số khung: MH1JMD119PK192146, số máy: JMD1E1192349 là phương tiện của bị cáo Lương Văn H sử dụng vào việc phạm tội.

Tại Cáo trạng số: 616/CT-VKSBH ngày 22/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng (quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt:

  • - Bị cáo Lương Văn H mức án từ: 06 đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".
  • + Vật chứng:
  • + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S22+ loại 128Gb, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã thu hồi và trả lại cho anh Trần Thái Q.
  • + 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60B7-897.49, số khung: MH1JMD119PK192146, số máy: JMD1E1192349 là phương tiện của bị cáo Lương Văn H sử dụng vào việc phạm tội.

Về dân sự: Anh Trần Thái Q đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với qui định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; qua đó đã có căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, tại quán thịt cầy “Đại An” ở địa chỉ E628A, tổ 35, khu phố 5, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, Lương Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S22+ loại 128Gb của anh Trần Thái Q, trị giá 5.124.500đồng (Năm triệu một trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Lương Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng và việc xử phạt bị cáo hình phạt tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung công 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60B7-897.49, số khung: MH1JMD119PK192146, số máy: JMD1E1192349 là phương tiện của bị cáo Lương Văn H sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho anh Trần Thái Q 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S22+ loại 128Gb.

[6] Về dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Lương Văn H 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án (22/11/2024), nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì UBND xã, phường giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo cho cơ quan Thi hành án hình sự để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án cho UBND cấp xã, phường nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể

quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 60B7-897.49, số khung: MH1JMD119PK192146, số máy: JMD1E1192349 là phương tiện của bị cáo Lương Văn H sử dụng vào việc phạm tội.
  • (Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024)
  • - Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho anh Trần Thái Q 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S22+ loại 128Gb.

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lương Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Trần Thái Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - CATP. Biên Hòa;
  • - THADS TP. Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 633/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 633/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/6/2024, tại quán thịt cầy “Đại An” ở địa chỉ E628A, tổ 35, khu phố 5, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, Lương Văn Hoàng đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung S22+ loại 128Gb của anh Trần Thái Quỳnh, trị giá 5.124.500đồng (Năm triệu một trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Lương Văn Hoàng đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger