|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 633/2024/HS-PT Ngày 08 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Ông Ngô Đức Thọ
2/ Ông Trần Ngọc Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thông, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 08/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 555/2024/TLPT-HS ngày 24/6/2024. Do có kháng cáo của bị cáo Đinh Quốc Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo kháng cáo:
Đinh Quốc Đ, sinh ngày 20/10/1992 tại Gia Lai. Tên gọi khác: Đ1; Nơi cư trú: Tổ D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh H, sinh năm 1968 và bà Cao Thị Mỹ P, sinh năm 1970; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; Sống chung như vợ chồng với chị Lại Thị Mỹ T, sinh năm 1992 và có con chung sinh năm 1917; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 11/9/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Trong vụ án này còn có bị cáo Phạm Văn N và Nguyễn Lê N1, nhưng không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau:
Đinh Quốc Đ, Phạm Văn N, Nguyễn Lê N1 là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Từ tháng 02/2023 đến tháng 9/2023, Đinh Quốc Đ lên mạng xã hội Facebook đặt mua 16 khẩu súng ngắn với giá từ 350.000đồng đến 1.000.000đồng và 01 hộp phụ kiện rời của súng đồ chơi nguy hiểm (gồm: 01 thân súng, 01 nòng súng, 01 ổ quay) với giá 700.000đồng của người tên Lê Tuấn A.
Đ còn mua của người sử dụng Facebook tên “Cậu Cả” 17 bộ sản phẩm chế tạo súng, mỗi bộ gồm ống đồng, kim hỏa (01 bộ mua với giá 500.000đồng; 16 bộ mua với giá 250.000đồng/bộ), Đ nhận được khẩu súng và các linh kiện trên qua hình thức nhận hàng thanh toán (gọi tắt là COD) không rõ đơn vị vận chuyển.
Sau đó, Đ cất giấu tại nhà thuộc tổ D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai, đồng thời lấy 03 khẩu súng và 03 bộ sản phẩm chế tạo súng thực hiện hành vi chế tạo 03 khẩu súng như sau, sử dụng tuốcnovít và kìm để tháo rời ốp tay, nòng súng, ổ quay tiếp đạn và các chi tiết bên trong thân súng, sử dụng máy mài, mài bên trong thân súng, tại vị trí đặt kim hỏa sao cho đặt vừa bộ K, mài lỗ chứa đạn của ổ quay và lỗ nòng súng sao cho vừa với ống đồng; sử dụng keo A&B gắn cố định kim hỏa vào bên trong thân súng, gắn 06 ống đồng vào 06 lỗ ổ quay tiếp đạn và 01 ống đồng vào trong nòng súng, cuối cùng lắp ráp các bộ phận đã được tháo rời và chỉnh sửa nêu trên thành khẩu súng hoàn chỉnh trong đó có 01 khẩu súng, ổ quay màu trắng bạc, ốp báng súng màu nâu, thân súng có chữ SMITH&WESSON ZP-5, số XYL230604492 là vũ khí quân dụng, rồi cất giấu trong phòng ngủ.
Ngoài ra, vào tháng 3/2023, Đinh Quốc Đ giới thiệu cho Phạm Văn N mua của Lê Tuấn A 04 khẩu súng (01 khẩu súng giá 500.000đồng, 02 khẩu giá 400.000đồng /khẩu, 01 khẩu giá 1.000.000đồng), Đ bán cho Nuốn 04 bộ sản phẩm chế tạo súng (mỗi bộ gồm có: ống đồng, kim hỏa) với giá 750.000đồng /bộ. Đ giới thiệu cho N mua 02 hộp đạn của người có zalo “Dũng Bá” (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 750.000đồng /hộp.
Vào cuối tháng 8/2023, Đinh Quốc Đ bán cho Nguyễn Lê N1 01 khẩu súng với giá 450.000đồng và 01 bộ chế tạo súng (bộ gồm có: ống đồng, kim hỏa) giá 500.000đồng, N1 đặt mua tài khoản Facebook (không xác định) để mua 06 viên đạn thể thao với giá 72.00 đồng.
Vào tháng 5/2023, thông qua facebook biết Trương Minh P1 cần mua bộ C súng, Đ bán 08 bộ sản phẩm (04 bộ mua với giá 500.000đồng, 04 bộ mua với giá 750.000đồng/bộ) chế tạo súng cho Trương Minh P1 qua hình thức COD không rõ đơn vị vận chuyển.
Đến tháng 8/2023, sau khi Phạm Văn N nhận súng, đạn và linh kiện bằng hình thức giao bằng COD (không rõ đơn vị vận chuyển), N mang về nhà tại 387/3, tổ A, ấp C, xã L, huyện T, Long An cất giấu. Sau đó, N mang súng và linh kiện đến chòi cách nhà ở khoảng 10m để lắp ráp chế tạo.
Nuốn sử dụng tuốcnơvít tháo rời nòng súng, ốp tay, ổ quay, thân súng và các chi tiết bên trong khẩu súng, sử dụng máy cắt cầm tay để cắt bên trong thân súng tại vị trí đặt kim hỏa sao cho vừa với bộ K; sử dụng keo A&B để gắn cố định kim hỏa vào bên trong thân súng, 06 ống đồng vào trong 06 lỗ trên ổ quay và 01 ống đồng vào nòng súng; sử dụng tuốcnơvít gắn các bộ phận đã tháo rời và chỉnh sửa nêu trên thành khẩu súng hoàn chỉnh, để chế tạo 04 khẩu súng tương tự vũ khí quân dụng rồi cất giấu trong chòi.
Thời gian này, N mang súng và đạn ra cánh đồng lúa (thuộc ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Long An) để bắn. Thời điểm bắn súng là vào khoảng 11 giờ đến 12 giờ đêm vào ngày không rõ của tháng 8/2023, N đã sử dụng 04 khẩu súng bắn 12 viên đạn thể thao, trong đó bắn nổ được khoảng 7-8 viên (Nuốn không xác định được mỗi khẩu bắn bao nhiêu viên đạn). Số đạn bắn không nổ và vỏ đạn, N vứt xuống kênh trên đường về nhà (không rõ vị trí), 04 khẩu súng và đạn N tiếp tục cất giấu trong phòng ngủ với mục đích để sử dụng.
Vào tháng 8/2023, Nguyễn Lê N1 thỏa thuận mua súng, đạn của Đinh Quốc Đ. Sau khi, nhận súng, đạn và linh kiện bằng hình thức COD (không rõ đơn vị vận chuyển). Sau đó, N1 thực hiện hành vi lắp ráp chế tạo giống như Đ thành 01 khẩu súng tương tự vũ khí quân dụng. N1 bán khẩu súng này cho đối tượng tên Q (địa chỉ xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ) với giá 5.500.000đồng.
Đầu tháng 9/2023, N1 tiếp tục mua của Đ 04 khẩu súng đồ chơi với giá 450.000 đồng/khẩu. Đến ngày 04/9/2023, anh Lưu Quang H1 (nhân viên của Công ty G hàng nhanh thuộc Bưu cục 3, chi nhánh thị xã P, tỉnh Phú Thọ) tiếp nhận để giao hàng. Do thấy có biểu hiện bất thường nên anh H1 kiểm tra kiện hàng, phát hiện bên trong có 01 khẩu súng màu đen, dạng ổ quay và 06 viên đạn thể thao nên đến Công an thị xã P, tỉnh Phú Thọ trình báo.
Đến ngày 06/9/2023, Nguyễn Lê N1 đến Cơ quan điều tra Công an huyện N đầu thú và giao nộp: 01 khẩu súng bằng kim loại, có hộp tiếp đạn dạng ổ quay; 01 điện thoại Iphone Xs Max, màu đen, gắn sim số 0329.277.974; 01 điện thoại Ace, màu xanh-cam, loại bàn phím bấm.
Ngày 11/9/2023 Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở Đinh Quốc Đ thu giữ 01 khẩu súng màu trắng bạc, thân súng có dòng chữ “MADE IN CHINA”, nòng súng có chữ “SMITH & WESSON”, tay cầm có chữ “ZP-5”; 01 khẩu súng màu đen, thân súng có chữ “XIAO YUE LIANG”, nòng súng có chữ “SMITH & WESSON”, tay cầm có chữ “ZP-5”; 01 khẩu súng màu trắng, thân súng có chữ “XIAO YUE LIANG”, nòng súng có chữ “SMITH & WESSON”, tay cầm có chữ “XYL”; 02 khẩu súng màu đen, thân súng có dòng chữ “MADE IN CHINA”, nòng súng có chữ “SMITH&WESSON”, tay cầm có chữ “ZP-5”; 02 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, không có ký hiệu; 04 khẩu súng bằng kim loại màu đen, không có ký hiệu, đựng trọng 04 hộp giấy, bên ngoài có dòng chữ “SKY BAILIFF”; 01 khẩu súng bằng kim loại màu đen, thân súng có dòng chữ “Performance Center 645”; 01 khẩu súng bằng nhựa màu đen, trên thân súng có ký hiệu “22LR”; 01 hộp phụ kiện rời.
Ngày 11/9/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Phạm Văn N tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Long An thu giữ 02 khẩu súng màu trắng bạc, thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, nòng súng có chữ “SMITH&WESSON", tay cầm bằng nhựa màu gỗ có chữ “ZP-5”; 02 khẩu súng màu đen, thân súng có dòng chữ “XIAO YUE LIANG”, nòng súng có chữ “SMITH&WESSON”, tay cầm màu đen có chữ “ZP-5”; 02 khẩu súng màu đen, không có ký hiệu; 38 viên đạn.
Tại bản kết luận giám định số 6522/KL-KTHS ngày 06/9/2023 của V Bộ C1, kết luận (khẩu súng và 6 viên đạn đã thu giữ của Nguyễn Lê N1):
Khẩu súng gửi giám định là súng tự chế kiểu ổ quay lắp và bắn được đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng, hiện còn sử dụng để bắn được.
06 viên đạn kim loại gửi giám định là đạn cỡ 5,6 x 15,5mm, thuộc vũ khí thể thao và sử dụng lắp, bắn được cho khẩu súng gửi giám định, hiện 06 viên đạn còn sử dụng để bắn được. 06 viên đạn đã được sử dụng để bắn thực nghiệm, không hoàn trả.
Tại bản kết luận giám định số 5897/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh Bộ C1 kết luận: 04 khẩu súng gửi giám định (thu giữ của N1) là đồ chơi nguy hiểm, không phải vũ khí quân dụng. Khi sử dụng 04 khẩu súng nêu trên tác động vào cơ thể người có thể gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định số 5907/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh Bộ C1, 13 khẩu súng đã thu giữ của Đinh Quốc Đ, kết luận:
01 (một) khẩu súng ngắn ổ quay màu trắng bạc, ốp báng súng màu nâu, thân súng có chữ SMITH&WESSON ZP-5, số XYL230604492 (ký hiệu A1) là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng, thuộc loại súng ngắn chế tạo thủ công bắn đạn nổ cỡ (5,6 x 15,5)mm.
01 (một) khẩu súng ngắn bằng nhựa màu đen, thân súng có chữ .22LR (ký hiệu A2) là súng ngắn chế tạo thủ công bắn đạn nổ. Hiện tại, khẩu súng này thiếu bộ phận, không hoạt động được nên khẩu súng này không phải là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng hay vũ khí quân dụng.
01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại, màu đen (ký hiệu A3) là súng ngắn chế tạo thủ công bắn đạn nổ cỡ (5,6 x 15,5)mm. Hiện tại, khẩu súng này không bắn được đạn nổ (kim hỏa đập yếu) nên khẩu súng này không phải là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng hay vũ khí quân dụng.
10 (mười) khẩu súng ký hiệu từ A4 đến A13 là đồ chơi nguy hiểm, thuộc loại súng sử dụng khí nén bắn đạn nhựa, không phải là vũ khí quân dụng.
01 (một) hộp phụ kiện rời ký hiệu A14 là các bộ phận của khẩu súng đồ chơi nguy hiểm sử dụng khí nén bắn đạn nhựa, không phải là vũ khí quân dụng.
Sử dụng khẩu súng ký hiệu Al bắn đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm trúng cơ thể người có thể gây thương vong. Để xác định tầm sát thương của khẩu súng này, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai phối hợp tổ chức bắn thực nghiệm.
H2 lại đối tượng giám định: Hoàn trả các đối tượng đã gửi giám định; các mẫu vật sau đây đã dùng để làm mẫu thực nghiệm, không hoàn trả, gồm: 03 khẩu súng đồ chơi nguy hiểm ký hiệu A6, A7 và A9.
Tại bản kết luận giám định số 5935/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh Bộ C1, kết luận 06 khẩu súng và 38 viên đạn thu giữ của Phạm Văn N:
04 (bốn) khẩu súng ký hiệu A1, A2, A3, A4 là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và là vũ khí quân dụng, thuộc loại súng ngắn chế tạo thủ công bắn đạn cỡ (5,6 x 15,5)mm.
01 (một) khẩu súng ký hiệu A5 là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc loại súng ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn cao su cỡ (9 x 22)mm, không phải là vũ khí quân dụng.
01 (một) khẩu súng ký hiệu A6 là súng ổ quay chế tạo thủ công bắn đạn cỡ (15,6 x 5,5)mm. Hiện tại, khẩu súng không bắn được đạn nổ (kim hoả đập yếu) nên khẩu súng này không phải là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng hay vũ khí quân dụng.
38 (ba mươi tám) viên đạn là vũ khí thể thao, thuộc loại đạn chưa bắn, cỡ (5,6 x 15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng.
Tại bản kết luận giám định số 1087/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh Bộ C1 kết luận đối với khẩu súng, Nguyễn Lê N1 giao nộp khi đầu thú: khẩu súng gửi giám định nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm được chế tạo thủ công để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm. Hiện tại, cò súng không liên kết được với búa đập nên không bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên không có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và không phải là vũ khí quân dụng.
Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu và giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đ quản lý 01 khẩu súng kiểu Rulo, màu bạc, ký hiệu “SMITH WESSON, MADE IN U.S.A có số nguyên thủy là D172261; 01 khẩu súng kiểu ổ quay dài 19,5cm bằng kim loại màu đen, tay cầm bằng nhựa, trên thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, “ZP-5”, ổ quay của súng có 06 lỗ, đường kính mỗi lỗ 5,8mm, nòng súng dài 6,2cm, đường kính trong 8,4mm; 06 viên đạn có vỏ màu vàng, đầu đạn màu đen, cùng dài 2,5cm; 01 khẩu súng màu trắng bạc, thân súng có dòng chữ “MADE IN CHINA”, nòng súng có chữ “SMITH & WESSON”, tay cầm có chữ “ZP-5”; 01 khẩu súng màu trắng bạc, thân súng có chữ “MADE IN CHINA”, nòng súng có chữ “SMITH&WESSON", tay cầm bằng nhựa màu gỗ có chữ “ZP-5”; 01 khẩu súng màu đen, thân súng có dòng chữ “MADE IN CHINA”, nòng súng có chữ “SMITH&WESSON”, tay cầm màu đen có chữ “ZP-5”; 02 khẩu súng màu đen, thân súng có dòng chữ “XIAO YUE LIANG”, nòng súng có chữ “SMITH&WESSON”, tay cầm màu đen có chữ “ZP-5”; 38 viên đạn bằng kim loại màu vàng, đầu đạn màu đen.
Tịch thu tiêu hủy: 02 khẩu súng bằng kim loại, màu đen, không có ký hiệu; 01 khẩu súng bằng nhựa màu đen, trên thân súng có ký hiệu “.22LR”; 01 thẻ ngân hàng A1 tên Đinh Quốc Đ; 01 khẩu súng bằng kim loại, có hộp tiếp đạn dạng ổ quay; 01 con dao, cán cầm bằng gỗ; 03 tuốc-nơ-vít, dao cắt giấy, keo dán; 01 (một) hộp giấy trên có ghi “G8LEBYXF”.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 máy mài cầm tay, trên thân máy có chữ Electric grinder; 01 điện thoại di động OPPO F11 Pro màu xanh của Đinh Quốc Đ. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5 Pro, màu xanh, gắn sim số 0988.095.913 và 0825.599.213 của Phạm Văn N. 01 điện thoại Iphone Xs Max, màu đen, gắn sim số 0329.277.974 và 01 (một) điện thoại Ace, màu xanh-cam, loại bàn phím bấm của Nguyễn Lê N1 là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
Buộc bị cáo Đinh Quốc Đ giao nộp số tiền thu lợi là 20.000.000đồng, Nguyễn Lê N1 giao nộp số tiền thu lợi là 500.000đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc bán súng mà có để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS-P1 ngày 01/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, có nội dung:
Truy tố bị cáo Đinh Quốc Đ về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép chất vũ khí quân dụng” theo điểm g khoản 2 Điều 304 của Bộ Luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Lê N1 về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép chất vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã tuyên xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Đinh Quốc Đ 7 năm tù, về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2023.
Ngoài ra, còn xử phạt bị cáo Phạm Văn N 5 năm tù, Nguyễn Lê N1 3 năm tù.
Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí, các biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/5/2024 bị cáo Đinh Quốc Đ làm đơn kháng cáo, nêu lý do:
Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, xin được xem xét giảm nhẹ mức án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, hiện nay thì vợ bị cáo không còn sống chung, bị cáo phải nuôi con còn nhỏ. Xin được xem xét giảm nhẹ mức án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử bị cáo mức án nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết nào mới. Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Quốc Đ làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
- Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản thu giữ tang vật phù hợp với kết luận giám định của cơ quan chức năng thể hiện: Trong thời gian từ tháng 2/2023 đến ngày 11/9/2023, tại tổ D, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai, Đinh Quốc Đ có mua 16 súng thể thao và 17 bộ linh kiện để chế tạo vũ khí quân dụng, sau đó tháo ráp các linh kiện để chế tạo 1 khẩu súng. Ở quay màu trắng bạc, ốp bán súng màu nâu, thân súng có ghi chữ. Trong quá trình giám định thì xác định đây là loại vũ khí quân dụng. Đ làm xong bán 4 khẩu súng thể thao và linh kiện chế tạo vũ khí quân dụng cho Phạm Văn N, bán 1 khẩu súng thể thao và linh kiện chế tạo vũ khí quân dụng cho Nguyễn Lê N1.
Sau khi mua được súng và linh kiện thì bị cáo N có hành vi tàng trữ chế tạo trái phép 4 khẩu súng ngắn, nòng súng cũng có cũng chữ kí hiệu tay cầm có chữ ZP5 là vũ khí quân dụng. Đồng thời N còn có hành vi sử dụng 4 khẩu súng này bắn 12 viên đạn thể thao, trong đó bán nổ được khoảng 7, 8 viên, còn Nguyễn Lê N1 thì có hành vi chế tạo, tàng trữ, trái phép 1 khẩu súng màu đen dạng ổ quay cũng là vũ khí quân dụng. Sau đó, N1 bán khẩu súng này cho một đối tượng tên Lê Hồng Q1 ở xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ với giá 5.500.000đồng.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Đinh Quốc Đ 7 năm tù về tội chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng theo điểm g khoản 2 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017. Ngoài ra còn xử phạt bị cáo Phạm Văn N 5 năm tù, xử phạt Nguyễn Lê N1 3 năm tù.
Hành vi phạm tội của bị cáo Đ là nghiêm trọng, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng mức án 7 năm tù đối với bị cáo Đ là đã có xem xét đến những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như bị cáo phạm tội 2 lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự và một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, cấp phúc thẩm không có cơ sở để xem xét.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo phải chịu theo luật định.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 355 Bộ Luật tố tụng Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đinh Quốc Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Đinh Quốc Đ 7 năm tù, về tội “Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2023.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đinh Quốc Đ phải nộp số tiền 200.000đồng án phí HSPT.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 633/2024/HS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng)
- Số bản án: 633/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
