|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 632/2024/HS-PT Ngày: 08 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Lượng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 441/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H; sinh năm 1983 tại tỉnh Nghệ An; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 409 Tầng 5, Chung cư T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nguyên Kế toán trưởng Công ty F; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị B; Chồng là Lê Hồng L (chết) và có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giam từ ngày 17/7/2023; (có mặt)
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đoàn Trọng N thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
(Trong vụ án, còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH MTV F (gọi tắt là Công ty F), được Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0313537554, đăng ký lần đầu ngày 16/11/2015 và thay đổi lần thứ 12 ngày 24/10/2022, có địa chỉ tại tầng C, phòng số 3, tòa nhà H, A T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Ono T1, quốc tịch Nhật Bản làm Giám đốc.
Bà Nguyễn Ngọc H1, đại diện theo ủy quyền của Công ty F tố cáo Nguyễn Thị H là kế toán trưởng của Công ty đã có hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao, chiếm đoạt của Công ty với số tiền 920.111.257 đồng.
Kết quả điều tra xác định:
Nguyễn Thị H ký Hợp đồng lao động số 00101621-QĐ/FPV, ngày 01/6/2021 với Công ty F và được bổ nhiệm chức danh Kế toán trưởng của Công ty F từ ngày 01/6/2021.
Ngày 14/6/2021, ông Ono T1 có Giấy uỷ quyền số 03/2021/UQ uỷ quyền cho H được quyền quyết định và ký các văn bản quản lý hành chính phục vụ hoạt động của Công ty F thuộc thẩm quyền của ông Ono T1. Được toàn quyền ký kết các hợp đồng dịch vụ phục vụ cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty và các văn bản giao dịch liên quan với cơ quan Thuế, cơ quan lao động, bảo hiểm. Công việc cụ thể của H tại Công ty F là thực hiện nhiệm vụ hạch toán sổ sách, các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động tài chính của Công ty, quản lý tài khoản ngân hàng, quản lý tiền mặt,... Ngoài ra, H cũng thực hiện công việc dựa trên sự bàn giao của bà Nguyễn Ngọc H1, nguyên là Kế toán trưởng của Công ty.
Về quy trình quản lý tiền của Công ty: Hường có trách nhiệm quản lý tiền mặt và quản lý các tài khoản ngân hàng của Công ty F tại Ngân hàng B1, Ngân hàng E, Ngân hàng V2. Đối với tiền từ tài khoản ngân hàng thì hàng tháng Công ty mẹ tại Nhật Bản sẽ chuyển tiền Yên N1 cho Công ty F vào tài khoản Ngân hàng của Công ty. Khi cần thanh toán để phục vụ hoạt động kinh doanh, H làm phiếu đề nghị chi kế toán cho Công ty mẹ tại Nhật Bản qua phần mềm Skype. Khi được kế toán Công ty tại N đồng ý thì chuyển cho Giám đốc Công ty là ông Ono T1 duyệt và ký phiếu đề nghị chi, rồi gửi qua phần mềm Skype. Khi ông Ono T1 có mặt tại Việt Nam sẽ trực tiếp ký vào phiếu đề nghị chi, để H thực hiện giao dịch bán tiền Y tại tài khoản Ngân hàng của Công ty F.
Việc quản lý các tài khoản ngân hàng trên: Hường được bà Nguyễn Ngọc H1, nguyên Kế toán trưởng kiêm quản lý Công ty bàn giao trước khi H1 nghỉ việc. Việc bàn giao trên không lập biên bản, chỉ chốt số dư tài khoản và báo qua phần mềm S để thông báo cho Công ty M tại Nhật Bản biết. Trong thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2022, H được giao trách nhiệm quản lý các tài khoản Ngân hàng của Công ty F, chi tiêu, thông báo số báo có, báo nợ của tài khoản
2
cho Giám đốc Công ty là ông Ono T1 và chỉ Hường biết mật khẩu, quản lý thiết bị nhận mã OTP và thực hiện lệnh chuyển tiền đối với các tài khoản trên.
Căn cứ sao kê các tài khoản Ngân hàng của Công ty F tại Ngân hàng E - P1, Chi nhánh Thành phố H; Ngân hàng B1, Chi nhánh Thành phố H; Ngân hàng V2, Chi nhánh Thành phố H và tài khoản cá nhân của Nguyễn Thị H tại Ngân hàng V2, Chi nhánh Thành phố H, Ngân hàng V3 và các phiếu duyệt chi do Công ty F cung cấp thì xác định: Từ tháng 06/2021 đến tháng 06/2022, H chuyển tổng số tiền 4.289.562.535 đồng từ tài khoản của Công ty đến tài khoản cá nhân của H. Sau đó, H đã chuyển trả vào tài khoản của Công ty số tiền 1.402.617.500 đồng, thanh toán các khoản chi tiêu của Công ty từ tài khoản cá nhân số tiền 1.966.833.778 đồng, trong đó có phiếu duyệt chi với số tiền 1.949.002.823 đồng và không có phiếu duyệt chi 17.830.955 đồng. Tổng số tiền H chuyển vào tài khoản cá nhân nhưng không hoàn trả lại Công ty là 920.111.257 đồng.
Kết quả ghi lời khai của Nguyễn Thị H và những người liên quan khai nhận như sau:
Nguyễn Thị H thừa nhận toàn bộ nội dung như trên. Lợi dụng việc được giao quản lý các tài khoản ngân hàng của Công ty F, biết mật khẩu, quản lý thiết bị nhận mã OTP và thực hiện lệnh chuyển tiền đối với các tài khoản trên, H đã tự ý chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của Công ty đến tài khoản cá nhân của H để chiếm đoạt với số tiền là 920.111.257 đồng. H sử dụng số tiền này để đầu tư tiền ảo và chứng khoán ảo qua lời mời của một người lạ tự nhận là nhân viên sàn giao dịch nhắn tin qua phần mềm Telegram. Hường tạo tài khoản là “kimanh6868a” trên Website của sàn và trong thời gian tham gia đầu tư trên sàn giao dịch ảo thì H bị thua lỗ, hiện nay không xác định được thông tin có liên quan đến sàn giao dịch ảo nói trên và không có khả năng hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt cho Công ty F.
Ông Ono T1, Giám đốc Công ty F và bà Nguyễn Ngọc H1, Phó Giám đốc, đại diện theo ủy quyền của Công ty khai phù hợp với kết quả điều tra. Việc Nguyễn Thị H tự ý chuyển tiền từ tài khoản của Công ty đến tài khoản của Nguyễn Thị H thì Công ty không biết.
Đối với 07/63 đối tượng là chủ tài khoản Ngân hàng mà H đã chuyển tiền gồm Trần Thị Phượng D, Võ Thị Thùy L1, Võ Thị Thủy T2, Võ Văn H2, Trần Đại Kim V, Trần Đại Kim C và Nguyễn Huỳnh Hồng P, xác định: Từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2022, Nguyễn Thị H đã chuyển 2.453.265.040 đồng đến các tài khoản của các cá nhân trên, do sàn giao dịch ảo cung cấp để đầu tư tiền ảo và chứng khoán ảo. Các đối tương trên thừa nhận đã đăng ký mở tài khoản Ngân hàng và bán cho những người lạ mặt qua mạng xã hội và được trả công từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng/tài khoản ngân hàng. Các đối tượng trên không quen biết, chưa từng gặp mặt và không được hưởng bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền 2.453.265.040 đồng do H chuyển đến tài khoản Ngân hàng mà các đối tượng đứng tên.
3
Đối với 56 đối tượng còn lại là chủ tài khoản ngân hàng đã nhận tiền do H chuyển khoản, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Ban Biên tập báo Công an Thành phố H, Báo pháp luật Thành phố H, B2 và B3 đăng tải thông tin đề nghị các cá nhân trên đến trình diện với Cơ quan điều tra để làm rõ nguồn tiền và giao dịch với tài khoản ngân hàng đứng tên Nguyễn Thị H. Tuy nhiên đến nay chưa có cá nhân nào đến Cơ quan điều tra làm việc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt Nguyễn Thị H 15 (Mười lăm) năm tù, về tội “Tham ô tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 17/7/2023).
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty F, với số tiền 920.111.257 (Chín trăm hai mươi triệu một trăm mười một nghìn hai trăm năm mươi bảy) đồng.
Tiếp tục tạm giữ 10.000.000 (Mười triệu) đồng mà ông Nguyễn Hữu V1 là anh ruột của bị cáo đã nộp vào tài khoản ngân để đảm bảo cho việc thi hành án (Theo giấy nộp tiền mặt ngày 29/01/2024 của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu – Công an Thành phố H nộp tại Kho bạc Nhà nước Thành phố H).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/4/2024, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do Bản án sơ thẩm xét xử quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ bị cáo đã già và có mẹ tham gia cách mạng, bị cáo đang nuôi con nhỏ.
Luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo thống nhất với tội danh tại bản án sơ thẩm nhưng mong Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội về chăm sóc con nhỏ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội "Tham ô tài sản” là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm các tình
4
tiết giảm nhẹ bị cáo đưa ra tại phiên tòa đã được cấp sơ thẩm xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Theo nội dung bị cáo trình bày tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm xác định: bị cáo Nguyễn Thị H là Kế toán trưởng của Công ty từ ngày 01/6/2021, với nhiệm vụ là thực hiện hạch toán sổ sách, quản lý tài khoản ngân hàng và quản lý tiền mặt của Công ty F. Được sự tin tưởng của ông Ono T1 là Giám đốc Công ty F đã uỷ quyền cho bị cáo quyết định và ký các Văn bản quản lý hành chính, phục vụ cho hoạt động của Công ty, thuộc thẩm quyền của ông Ono T1, như là: Ký kết các hợp đồng dịch vụ phục vụ cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty và ký các Văn bản giao dịch liên quan với cơ quan Thuế, Cơ quan lao động và Bảo hiểm. Lợi dụng việc được giao quản lý các tài khoản ngân hàng của Công ty F, biết mật khẩu, quản lý thiết bị nhận mã OTP và thực hiện lệnh chuyển tiền đối với các tài khoản của Công ty F, từ tháng 06 năm 2021 đến tháng 06 năm 2022, bị cáo đã nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản của Công ty F đến tài khoản cá nhân của bị cáo để chiếm đoạt, với số tiền là 920.111.257 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản”, thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo đã nhiều lần chuyển tiền từ tài khoản Công ty F đến tài khoản cá nhân của bị cáo số tiền 920.111.257 đồng nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo được Tòa án đánh giá thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, anh ruột của bị cáo là ông Nguyễn Hữu V1 đã nộp 10.000.000 đồng để bồi thường cho Công ty F, bị cáo là mẹ đơn thân đang trực tiếp nuôi con chưa thành niên và gia đình bị cáo khó khăn, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Từ đó, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật này.
Hình phạt khởi điểm quy định tại Khoản 3 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là 15 năm tù. Khi quyết định hình phạt, Tòa án
5
cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo khung hình phạt bằng mức khởi điểm là phù hợp với quy định pháp luật.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo trình bày bản thân hiện đang khó khăn. Từ khi xét xử sơ thẩm đến nay chưa khắc phục thêm khoản tiền nào cho bị hại. Xét thấy, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đến hoạt động đúng đắn, uy tín của công ty. Mặt khác, còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương nên Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu, theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt Nguyễn Thị H 15 (Mười lăm) năm tù, về tội “Tham ô tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 17/7/2023).
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[2] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn |
7
8
Bản án số 632/2024/HS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản
- Số bản án: 632/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tham ô tài sản”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
