TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 631/2024/HSST Ngày: 21/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tuyền
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 629/2024/HSST ngày 23/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 626/2024/QĐXXST-HS ngày 31/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T; Giới tính: Nam;
Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 16 tháng 10 năm 1992 tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: số E, tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: Không.
Họ và tên cha: Bùi Văn Đ, sinh năm: 1967.
Họ và tên mẹ: Phạm Thị H, sinh năm 1965.
Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02 và chưa có vợ, con.
Tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 17/08/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bản án số 462/2015/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/11/2020 (Chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Ngày 24/09/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Đánh bạc” (đối với hành vi phạm tội ngày 28/02/2021).
Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 09/08/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B;
- Bị hại:
- Bà Võ Ngọc Mỹ H1, sinh năm 1997
- Bà Trần Thị Thu H2, sinh năm 1990
Địa chỉ thường trú: K, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ thường trú: ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Thanh L, sinh năm 1998
- Ông Trần Văn V, sinh năm 1990
Địa chỉ: khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 06/8/2024, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô BKS: 65HC-1059 đi vào Bệnh viện H5 (địa chỉ: khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) để thăm bạn. Tại đây, T phát hiện trên bàn gần cửa ra vào của phòng Mommy Spa (thuộc lầu 03) có để 01 chiếc điện thoại Samsung A50 (màu xanh dương) của chị Võ Ngọc Mỹ H1 không có ai trông coi, T liền nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và thực hiện. Sau khi lấy được chiếc điện thoại trên, T tiếp tục đi lên lầu 04, thấy chị Trần Thị T1 đang ngủ trong phòng bệnh số 419, trên giường có 01 chiếc điện thoại iPhone 11 ProMax (màu xanh, ốp trắng) nên T tiếp tục lén lút đi vào phòng lấy trộm chiếc điện thoại trên. Sau đó, tẩu thoát qua lối thoát hiểm, xuống bãi gửi xe của Bệnh viện để lấy xe mô tô rồi đi đến tiệm điện thoại “Hoàng Gia S” (địa chỉ: khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) do anh H3 Thanh Long làm chủ, bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy A50 được số tiền 850.000₫ (Tám trăm năm mươi nghìn đồng), tiêu xài hết. Còn lại chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax T dùng điện thoại Iphone Xs của mình rao bán trên mạng xã hội Facebook và bán cho anh Trần Văn V có tên nick name là “Trần Vững” được số tiền 2.300.000₫ (Hai triệu, ba trăm nghìn đồng).
Đến ngày 07/08/2024, chị Mỹ H1 và chị Thu H2 đến Công an phường T trình báo sự việc. Sau khi biết được hành vi trộm cắp của mình đã bị tố cáo, ngày 09/8/2024 T đi đến Công an phường T đầu thú. Sau đó, vụ việc được Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố, điều tra xử lý.
* Vật chứng vụ án gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A50, màu xanh dương (số I: 356646100183359), do anh Hoàng Thanh L tự nguyện giao nộp, là tài sản chị Võ Ngọc Mỹ H1 bị trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chị Mỹ H1.
- 01 chiếc điện thoại iPhone 11 ProMax (màu xanh, ốp trắng) là tài sản chị Trần Thị Thu H2 bị trộm cắp, sau khi trộm được bị cáo đã bán cho anh Trần Văn V và anh V đã bán lại cho 01 người lạ (không biết họ tên và địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro, màu trắng (số I: 356440685866908), tạm giữ của bị cáo, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo T.
- Số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) do chị Nguyễn Thị H4 (sinh năm 1993, ngụ tại số A, tổ H, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là nhân viên Bưu điện Khu công nghiệp T giao nộp. Đây là số tiền bị cáo bán 02 chiếc điện thoại (Iphone 11 ProMax trộm cắp được của chị Thu H2 và I của bị cáo) được giao nhận thông qua Bưu điện, trong đó:
- + Số tiền 1.700.000đ (Một triệu, bảy trăm nghìn đồng) là tiền bán chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs của bị cáo. Trước đó, bị cáo đã sử dụng điện thoại này để đăng bán chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax trộm được của chị Trần Thị Thu H2 trên mạng Facebook.
- + Số tiền 2.300.000đ (Hai triệu, ba trăm nghìn đồng) là tiền có được do bị cáo bán chiếc điện thoại Iphone 11 ProMax trộm cắp được của chị Thu H2. Bị cáo có ý kiến trả số tiền trên cho chị Trần Thị Thu H2 nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã trả lại cho chị Trần Thị Thu H2.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Forestry, màu đỏ, biển số 65HC-1059, tạm giữ của bị cáo T. Đây là phương tiện bị cáo T sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội, chưa xác minh làm rõ được nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
- 01 USB lưu trữ file ghi hình liên quan hành vi phạm tội trong vụ án, thu giữ được tại khu vực hiện trường vụ trộm. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
* Tại các bản Kết luận định giá tài sản số 261/KL-HĐĐGTS và 263/KL-HĐĐGTS ngày 13/08/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 điện thoại di động Samsung Galaxy A50 loại 64GB trị giá 1.067.000đ (Một triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax loại 256GB trị giá 6.234.000₫ (Sáu triệu hai trăm ba mươi tư nghìn đồng)”.
* Về dân sự:
- Bị hại Võ Ngọc Mỹ H1 đã nhận lại chiếc điện thoại di động Samsung A50 và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Bị hại Trần Thị Thu H2 bị chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 11 ProMax, không thu hồi được. Chị Thu H2 đã nhận được số tiền 2.300.000₫ (Hai triệu, ba trăm nghìn đồng) là số tiền bị cáo bán điện thoại của chị đã thu giữ được và tiếp tục yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 3.934.000đ (Ba triệu, chín trăm ba mươi tư nghìn đồng). Hiện bị cáo chưa bồi thường;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Thanh L đã mua chiếc thoại di động Samsung Galaxy A50 đã bị thu hồi trả lại cho chị Võ Ngọc Mỹ H1, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 614/CT-VKSBH ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T từ 14 đến 16 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 06/08/2024, tại Bệnh viện H5 (địa chỉ: khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), Bùi Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A50 trị giá 1.067.000₫ (Một triệu, không trăm lẻ bảy nghìn đồng) của chị Võ Ngọc M H1 và 01 chiếc điện thoại di dộng Iphone 11 ProMax trị giá 6.234.000₫ (Sáu triệu, hai trăm ba mươi tư nghìn đồng) của chị Trần Thị Thu H2 thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.
[3] Hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Bùi Văn T có tiền án ngày 17/08/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; nhân thân ngày 24/09/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Đánh bạc” (đối với hành vi phạm tội thực hiện vào ngày 28/02/2021). Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội, nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đầu thú. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Võ Ngọc Mỹ H1 đã nhận lại điện thoại di động Samsung A50 và không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét.
- Bị hại Trần Thị Thu H2 bị chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 11 ProMax, không thu hồi được. Chị Thu H2 đã nhận được số tiền 2.300.000đ, và tiếp tục yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 3.934.000đ. Tại phiên toà bị cáo Bùi Văn T đồng ý bồi thường số tiền 3.934.000đ cho chị Trần Thị Thu H2, nên ghi nhận.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Thanh L đã mua chiếc thoại di động Samsung Galaxy A50 đã bị thu hồi trả lại cho chị Võ Ngọc Mỹ H1, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét.
[8] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.700.000 đồng bị cáo có được từ việc bán điện thoại hiệu Iphone Xs của bị cáo đã sử dụng để đăng bán điện thoại Iphone 11 Promax của chị Trần Thị Thu H2.
[9] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[10] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 08 (tám) tháng tù tại bản án số 529/2024/HSST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà về tội “Đánh bạc”. Tổng cộng bị cáo phải chấp hành 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/8/2024.
- Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, 589 Bộ luật Dân sự:
- Buộc bị cáo Bùi Văn T bồi thường cho chị Trần Thị Thu H2 số tiền 3.934.000đ (Ba triệu chín trăm ba mươi bốn ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) bị cáo có được từ việc bán điện thoại hiệu Iphone Xs của bị cáo đã sử dụng để đăng bán điện thoại Iphone 11 Promax của chị Trần Thị Thu H2 (Biên lai thu tiền số 0002773 ngày 29/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà).
- Buộc bị cáo Bùi Văn T bồi thường cho chị Trần Thị Thu H2 số tiền 3.934.000đ (Ba triệu chín trăm ba mươi bốn ngàn đồng).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Tuyền |
Bản án số 631/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 631/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thiện
