|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 631/2024/DS - PT Ngày: 29/10/2024 V/v: “Tranh chấp chia thừa kế tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Vũ Viết Văn
Bà Nguyễn Thu Hồng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 29/10/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 481/2022/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 45/2022/DSST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 571/2022/QĐ-PT ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Vũ Minh N, sinh năm 1988; HKTT: 9A, tổ A, tập thể Văn Công Q, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Vũ Minh N: Bà Phạm Hồng N1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số nhà A, phố N, thị trấn P, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Trịnh Cẩm B, Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1965; Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu; HKTT: 9A, tổ A, tập thể Văn Công Q, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn: Ông Đỗ Văn H, Luật sư Công ty L3 và cộng sự, Đoàn luật sư thành phố H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Vũ Thị T, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số B, TDP T, phường T, quận B, Hà Nội. Nghề nghiệp: quân nhân nghỉ hưu.
Bà Vũ Thị L, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số nhà A phố B, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
Ông Vũ Chí C, sinh năm 1971. Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1941. Địa chỉ: Cụm E, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1940. Địa chỉ: Cụm E, xã H, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Ông Nguyễn Huy H1, sinh năm 1955. HKTT: Số C ngõ D T, phường K, quận T, TP .. Nghề nghiệp: cán bộ nghỉ hưu.
Ông Nguyễn Huy C1, sinh năm 1958. HKTT: Số F hẻm E ngõ G, phường G, quận H, TP ..
Ông Nguyễn Huy P, sinh năm 1969. HKTT: Tổ 5 phường T, quận C, TP ..
Ông Nguyễn Quế H2, sinh năm 1977. HKTT: Số B hẻm E ngõ G, phường G, quận H, TP ..
Bà Đặng Thị N3, sinh năm 1930. HKTT: Căn hộ 902 Nhà N khu đô thị T, N, quận T, TP ..
Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1963. HKTT: Phòng 1412 CT1B Chung cư G BTTM BQP Tổ dân phố T, phường X, quận B, TP ..
Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971. HKTT: Căn hộ 902 Nhà N khu đô thị T, N, quận T, TP ..
Ông Nguyễn Quế S, anh Nguyễn Triều G. HKTT: Số B hẻm E ngõ G, phường G, quận H, TP ..
Chị Vũ Ngọc H4, sinh năm 2003. Địa chỉ: Số A T, phường M, quận C, TP ..
Cháu Vũ Trà M, sinh năm 2008. Địa chỉ: Số A phố T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà L1, ông T1: Bà Phạm Hồng N1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số nhà A, phố N, thị trấn P, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C1, ông H2, ông P, bà N3, bà T2, bà H3: Ông Nguyễn Huy H1, sinh năm 1955. HKTT: Số C ngõ D T, phường K, quận T, TP .. Nghề nghiệp: cán bộ nghỉ hưu.
Người giám hộ cho cháu Vũ Trà M: Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1965. HKTT: 9A, tổ A, tập thể Văn Công Q, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.
*Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N2.
Tại phiên tòa: Có mặt bà Phạm Hồng N1, bà Nguyễn Thị N2, ông Đỗ Văn H, bà Trịnh Cẩm B, bà Vũ Thị T. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Tại đơn khởi kiện cũng như bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ huyết thống: Bố đẻ của chị Vũ Minh N là ông Vũ Chí C2 (Chết năm 2017) và mẹ đẻ là Phạm Thị Hồng N4 (Chết năm 1998). Ông C2 và bà N4 chết đều không để lại di chúc.
Bố mẹ đẻ của bà N4 là cụ Phạm Văn T1 và cụ Nguyễn Thị L1. Bố mẹ đẻ của ông C2 là cụ Vũ Văn K (Chết năm 2016) và cụ Lại Thị H5 (Chết năm 2018). Cụ K và cụ H5 có 03 người con hiện còng sống là: Bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L và ông Vũ Chí C.
Sau khi bà N4 chết, ông C2 có kết hôn với bà Nguyễn Thị N2. Ông C2 và bà N2 có 02 người con chung là Vũ Ngọc H4, sinh năm 2003 và Vũ Trà M, sinh năm 2008.
Về di sản thừa kế của ông C2, bà N4 để lại hiện Nguyên đơn yêu cầu Tòa án chia thừa kế gồm 03 tài sản, cụ thể như sau:
*Tài sản thứ nhất: Là 01 nhà đất 02 tầng 01 tum tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là số A phố T, phường M), quận C, Hà Nội. Đây là khối tài sản chung của ông C2 và bà N4. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Vũ Chí C2, bà Phạm Thị Hồng N4. Hiện nay, bà N2 đang quản lý, sử dụng tài sản này.
*Tài sản thứ hai: Là 01 nhà đất tại TDP T, phường T, quận B, Hà Nội. Đây là tài sản chung của ông C2 và bà N2, hiện nay bà N2 đang quản lý tài sản này. Nguồn gốc tài sản: Khoảng năm 2002, sau khi lấy bà N2, ông C2 mua đất ở T và xây nhà ở cùng 02 đứa con. Sau khi xây dựng nhà ở T thì thỉnh thoảng chị N có về sinh sống cùng ông C2, bà N2.
*Tài sản thứ ba: Là 01 ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A- 41065 mang tên bà Nguyễn Thị N2. Hiện nay, bà N2 đang sử dụng.
Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế là 03 khối tài sản trên. Cụ thể, chị N yêu cầu được chia kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là nhà đất tại Số A T, M, Cầu G, thành phố Hà Nội và có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch so với kỷ phần thừa kế được hưởng theo quy định của pháp luật. Các tài sản khác là di sản thừa kế, Nguyên đơn không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Bị đơn là bà Nguyễn Thị N2 và Người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Bà và ông Vũ Chí C2 kết hôn từ năm 2002, có đăng ký kết hôn ngày 05/8/2003. Bà và ông C2 có 02 người con chung là: Vũ Ngọc H4 (sinh năm 2003), Vũ Trà M (sinh năm 2008). Năm 2017, ông C2 chết không để lại di chúc.
Về quan hệ huyết thống của gia đình ông C2 và gia đình cháu N như Nguyên đơn trình bày, bà không có ý kiến gì.
Tuy nhiên, Bị đơn xác định di sản thừa kế của ông C2, bà N4 để lại chỉ có 02 khối tài sản gồm:
*Tài sản thứ nhất: Nhà đất tại số I, tổ A khu tập thể văn công quân đội (nay là số nhà A, phố T), phường M, quận C, Hà Nội.
*Tài sản thứ hai: 01 ô tô 04 chỗ nhãn hiệu Huyndai hàn quốc, BKS 29A.41.065, mua năm 2011.
Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Bị đơn có ý kiến: Trong quá trình hôn nhân, giữa ông C2 và bà N4 (Mẹ đẻ chị N) có 02 khối tài sản chung là nhà đất tại số A T, M, Hà Nội và 02 gian tập thể tại Viện Chăn nuôi. Năm 2005, ông C2 đã giao 02 gian tập thể tại Viện chăn nuôi T, cho bố mẹ đẻ bà N4 để trừ phần tài sản của bà N4 có được tại ngôi nhà Trần V để ông C2 được quyền sở hữu toàn bộ tài sản là nhà đất tại phố T, M, Cầu G, Hà Nội. Toàn bộ việc trao đổi để thanh toán kỷ phần không có giấy tờ gì. Đồng thời thỏa thuận, nhà đất tại số A T là tài sản riêng của ông C2. Còn đối với chị N, quá trình sống chung, bà N2 ông C2 đã chu cấp cho chị đi du học tại Trung Quốc. Chị N khi đó đã cam kết không đòi hỏi tài sản nào từ gia đình nữa. Và trên thực tế, chị N đã lấy chồng và định cư tại nước ngoài.
Đối với nhà đất tại số E, TDP T,T, B, thành phố Hà Nội mà Nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế: Bị đơn xác định nhà đất này là tài sản của bố mẹ bà N2 (Cụ Nguyễn Huy T3 – đã chết năm 2017 và cụ Đặng Thị N3). Trước kia, cụ T3 và cụ N3 đã nhờ bà N2 mua nhà đất này cho các anh em trong gia đình bà. Nhà đất này hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi mua thì gia đình bà N2 đồng ý để bà và các con sống tại nhà đất này. Như vậy, nhà đất tại số E TDP T không phải là tài sản chung của bà và ông C2, không phải là di sản thừa kế của ông C2 nên bà không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn về việc chia thừa kế nhà đất này. Đây là tài sản bố mẹ bà để lại. Do cụ T3 đã chết nên nhà đất này hiện được chia cho: Cụ bà Đặng Thị N3 cùng các con của cụ N3 và cụ T3 gồm: Ông Nguyễn Huy H1, Ông Nguyễn Huy C1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị N2, ông Nguyễn Huy P, bà Nguyễn Thị H3. Ngoài ra, cụ N3 và cụ T3 còn có con chung là ông Nguyễn Huy T4 (Đã chết năm 1971 chưa lập gia đình) và bà Nguyễn Thị N5 (Đã chết năm 1996 có chồng là ông Nguyễn Quế S và 02 con là Nguyễn Quế H2, Nguyễn Triều G).
Nay nguyên dơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, bà N2 đề nghị Tòa án chia 02 khối di sản thừa kế như trên theo quy định của pháp luật. Bà xin được chia kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là: Nhà đất tại số A phố T, M, quận C, thành phố Hà Nội. Đối với chiếc ô tô, đề nghị Tòa án chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
* Tại Bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Nó đại diện theo ủy quyền của cụ L1 là cụ Phạm Văn T1 trình bày:
Nhất trí ý kiến của Nguyên đơn về quan hệ huyết thống của gia đình bà N4, ông C1 và xác định di sản thừa kế mà ông C1, bà N4 để lại gồm 03 khối tài sản:
Tài sản thứ nhất: 01 nhà đất 02 tầng 01 tum tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là số A phố T, phường M), quận C, Hà Nội.
Tài sản thứ hai: 01 nhà đất tại TDP T, phường T, quận B, Hà Nội.
Tài sản thứ ba: 01 ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A-41065 mang tên bà Nguyễn Thị N2. Hiện nay, bà N2 đang sử dụng.
Về quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu: Sinh thời, bà N4 (Con gái hai cụ) và ông C1 có khối tài sản chung là nhà đất tại địa chỉ Số A T, M, Cầu G, Hà Nội. Nay, bà N4 mất không để lại di chúc, cụ T1 cụ L1 đề nghị được chia thừa kế theo pháp luật, phần tài sản của bà N4 trong khối tài sản chung nói trên. Hai cụ xin được nhường lại toàn bộ kỷ phần thừa kế của mình cho chị Vũ Minh N và thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, đề nghị Tòa án chia thừa kế cho chị N được hưởng kỷ phần thừa kế bằng hiện vật là nhà đất tại Số A T, M, Cầu G, Hà Nội.
Đối với ý kiến của Bị đơn cho rằng khi ông C1 còn sống, có thỏa thuận về việc giao 02 căn tập thể tại Viện chăn nuôi cho hai cụ để đối trừ kỷ phần thừa kế của bà N4 đối với nhà đất tại số A T là không có sự việc này.
* Tại Bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí C thống nhất trình bày:
Về quan hệ huyết thống của gia đình ông C1: Bố mẹ đẻ của ông C1 là cụ Vũ Văn K (Chết năm 2016) và cụ Lại Thị H5 (Chết năm 2018). Cụ K và cụ H5 có 03 người con hiện còng sống là: Bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L và ông Vũ Chí C. Về quan hệ huyết thống của gia đình bà N4 như Nguyên đơn trình bày là đúng, bà T, bà L, ông C không bổ sung gì thêm.
Về quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Chí C2 mất năm 2017 không để lại di chúc. Khi mất, ông C2 để lại di sản thừa kế như Nguyên đơn trình bày là đúng, cụ thể gồm:
*Tài sản thứ nhất: 01 nhà đất 02 tầng 01 tum tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là phố T, phường M), quận C, Hà Nội.
*Tài sản thứ hai: 01 nhà đất tại TDP T, phường T, quận B, Hà Nội.
*Tài sản thứ ba: 01 ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A-41065 mang tên bà Nguyễn Thị N2. Hiện nay, bà N2 đang sử dụng.
Sau khi ông C2 mất, mẹ đẻ ông C2 là cụ H5 được hưởng thừa kế phần di sản của ông C2. Tuy nhiên, cụ H5 chết năm 2018, do đó các con của cụ H5 là bà T, bà L, bà C được hưởng kỷ phần thừa kế của cụ H5 trong khối di sản ông C2 để lại.
Quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Nhất trí với ý kiến của nguyên đơn và cụ T1 về việc đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật 03 khối tài sản nêu trên.
Đối với tài sản là nhà đất ở T, Bà T, bà L, ông C trình bày Nhà đất tại số E TDP T, T là do ông C2 và bà N2 mua của bà M1 nên là tài sản chung của ông C2, bà N2 và là di sản thừa kế. Việc Bị đơn trình bày nhà đất này tài sản của bố mẹ bà N2 là không đúng sự thật.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, bà T, bà L, ông C cùng đề nghị Tòa căn cứ vào pháp luật để chia thừa kế đảm bảo quyền lợi cho chị N. Đối với kỷ phần của cụ H5 được hưởng, nay cụ đã mất thì bà T, bà L, ông Cầu X được nhận kỷ phần đó và để lại cho chị N. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, chia thừa kế bằng hiện vật là giao toàn bộ nhà đất tại Số A T, M, Cầu G, Hà Nội cho chị Vũ Minh N. Đối với những tài sản khác là di sản thừa kế, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của Bị đơn cho rằng khi ông C2 còn sống, có thỏa thuận về việc giao 02 căn tập thể tại Viện chăn nuôi cho cụ T1, cụ L1 thì các ông bà xác nhận khi còn sống, ông C2 có 02 gian tập thể này nhưng sau đó ông C2 mua bán, giao dịch như thế nào đối với gian nhà tập thể này thì ông C, bà T, bà L không biết được cụ thể.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ bà Đặng Thị N3 trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị N2 (Bị đơn). Về nguồn gốc thửa đất tại số E Tổ dân phố T, T, B, Hà Nội: Năm 2006, bà và chồng là ông Nguyễn Huy T3 (Ông T3 đã chết năm 2017) mua thửa đất trên bằng tiền của hai vợ chồng từ việc bán đất ở N, T, Hà Nội. Sau khi bán đất ở N thì hai cụ mua căn hộ chung cư để ở như hiện nay và mua thửa đất ở số 56 TDP T. Khi mua các bên chỉ lập giấy tờ mua bán viết tay. Sau khi cụ T3 mất không để lại di chúc, hiện nay gia đình không tìm thấy giấy tờ nào liên quan đến việc mua bán thửa đất trên. Sau khi mua đất thì hai cụ đã bỏ tiền ra xây nhà với mục đích sau này sẽ tặng cho cháu. Tuy nhiên, khi đó con gái hai cụ là bà N2 có 02 con nhỏ nên hai cụ đồng ý cho bà N2 ở trên thửa đất này. Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn và những tài sản khác, cụ không có ý kiến gì và xác định không liên quan đến bà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Huy H1, Nguyễn Huy P, Nguyễn Huy C1, Nguyễn Quế H2, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị H3 thống nhất trình bày:
Về quan hệ huyết thống, cụ Nguyễn Huy T3 (Đã chết năm 2017) và cụ Đặng Thị N3 có 08 người con gồm: Nguyễn Huy T4 (Đã chết năm 1971 chưa có gia đình), Nguyễn Thị N5 (Đã chết năm 1996 có chồng là ông Nguyễn Quế S và 02 con là Nguyễn Quế H2 và Nguyễn Triều G), Nguyễn Huy C1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Huy P, Nguyễn Thị H3 và Nguyễn Huy H1.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, các ông bà có ý kiến như sau:
Đối với nhà đất tại địa chỉ Số A T, M, Cầu G, Hà Nội và chiếc xe ô tô 4 chỗ Huyndai BKS 29A-41065, không liên quan gì đến các ông bà nên không có ý kiến gì.
Đối với thửa đất tại số E TDP T, T, B, Hà Nội: Đây là tài sản của cụ Nguyễn Huy T3 và Đặng Thị N3 (Là bố mẹ của ông H1, ông P, ông C1, bà N2, bà T2, bà H3). Về nguồn gốc đất do cụ T3, cụ N3 nhận chuyển nhượng lại bằng giấy tờ viết tay. Nay giấy tờ đã mất nên gia đình không xuất trình cho Tòa án được. Năm 2017, cụ T3 mất không để lại di chúc. Ông H1, ông P, ông C1, bà N2, bà T2, bà H3 thống nhất xác định nhà đất tại số E TDP T, T, B, Hà Nội là di sản thừa kế của cụ T3 cho những người thừa kế là các ông, các bà nêu trên. Vì vậy, không đồng ý với yêu cầu của Nguyên đơn đề nghị chia thừa kế đối với nhà đất tại số E TDP T, T, B, Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Ngọc H4 có ý kiến:
Chị là con đẻ của ông Vũ Chí C2 và bà Nguyễn Thị N2 và là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông C2. Ông C2 mất năm 2017 không để lại di chúc. Nay chị N khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị có ý kiến đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của mẹ chị là bà Nguyễn Thị N2: Giao nhà đất tại A phố T, phường M, quận C, Hà Nội cho bà N2 và hai chị em chị. Hiện mẹ chị và hai chị em không có chỗ ở nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã triệu tập nhiều lần ông Nguyễn Quế S và anh Nguyễn Triều G nhưng ông S, anh G không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến gì.
Với nội dung trên bản án dân sự sơ thẩm số 45/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Minh N đối với bà Nguyễn Thị N2.
2. Xác định thời điểm mở thừa kế :
Thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của bà N4 là năm 1998. Hàng thừa kế thứ nhất của bà N4 gồm: Cụ Phạm Văn T1, cụ Nguyễn Thị L1, ông Vũ Chí C2 (Đã chết), chị Vũ Minh N.
Thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của ông C2 là năm 2017. Hàng thừa kế thứ nhất của ông C2 gồm: Cụ Lại Thị H5 (Thời điểm ông C2 chết, cụ H5 còn sống), bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Minh N, chị Vũ Ngọc H4, cháu Vũ Trà M. Năm 2018, cụ H5 chết, những Người thừa kế thế vị của cụ H5 là bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L và ông Vũ Chí C.
Ghi nhận sự tự nguyện của cụ T1, cụ L1, bà T, bà L, ông C để lại toàn bộ kỷ phần thừa kế các ông bà được nhận cho chị Vũ Minh N.
3. Xác định di sản thừa kế:
- Di sản thừa kế của bà Phạm Thị Hồng N4 để lại là tài sản tương ứng với ½ giá trị nhà đất tại địa chỉ số A T, M, Cầu G, TP . có giá trị: 7.920.029.440 đồng (Bảy tỷ chín trăm hai mươi triệu không trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi đồng).
- Di sản thừa kế của ông Vũ Chí C2 được chia thừa kế theo pháp luật gồm: tài sản tương ứng với ½ giá trị nhà đất và 01 kỷ phần thừa kế của ông C2 từ bà N4 (Tương ứng với 1/8 giá trị nhà đất) tại địa chỉ Số A T, M, Cầu G, TP .; ½ giá trị nhà đất tại số E, TDP T, phường T, quận B, TP . và ½ giá trị chiếc xe ô tô Huyndai hàn quốc, BKS 29A.41.065. Như vậy, di sản thừa kế của ông C2 có tổng giá trị là : 7.920.029.440 đồng + 1.980.007.360 đồng + 125.000.000 đồng + 1.896.474.528 đồng – 350.000.000 đồng (công sức tôn tạo nhà đất tại T của bà N2) = 11.571.511.327 (Mười một tỷ năm trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm mười một nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng).
4. Chia thừa kế bằng hiện vật:
- Chia cho chị Vũ Minh N được hưởng toàn bộ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất là: 01 nhà đất 02 tầng 01 tum tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là Số A phố T, phường M), quận C, Hà Nội. Nhà đất được cấp GCNQSDĐ số 10113071224, hồ sơ gốc số 8234/2002 do U cấp ngày 02/12/2002 đứng tên ông Vũ Chí C2 (Vợ là Phạm Thị Hồng N4) đã chết; Diện tích: 34,8m².
- Chia cho bà Nguyễn Thị N2 sở hữu và sử dụng 01 ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A-41065 sản xuất năm 2011, đăng ký xe số 056466 ngày 27/10/2011. Bà N2 có quyền quản lý và sử dụng nhà đất tại số E TDP T, phường T, quận B, Hà Nội và có quyền đề nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với tài sản trên.
Chị Vũ Minh N có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị N2 số tiền là 1.311.417.460 (Một tỷ ba trăm mười một triệu bốn trăm mười bảy nghìn bốn trăm sáu mươi đồng). Thanh toán cho chị Vũ Ngọc H4 và cháu Vũ Trà M mỗi người số tiền là 1.980.007.360 đồng (Một tỷ chín trăm tám mươi triệu không trăm linh bảy nghìn ba trăm sáu mươi đồng).
- Bà Nguyễn Thị N2 phải thanh toán cho chị Vũ Ngọc H4 và Vũ Trà M mỗi người số tiền là: 334.294.950 đồng (Ba trăm ba tư triệu hai trăm chín tư nghìn chín trăm lăm mươi đồng).
Tạm giao số tiền 2.314.302.310 đồng (Hai tỷ ba trăm mười bốn triệu ba trăm linh hai nghìn ba trăm mười đồng) của cháu Vũ Trà M được hưởng cho bà Nguyễn Thị N2 là người giám hộ trực tiếp quản lý cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm, bà Nguyễn Thị N2 kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại cấp phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị N2 và người đại diện theo ủy quyền của bà N2 xác định nhà đất tại địa chỉ số A T, M, Cầu G, TP . đã chuyển dịch thành tài sản chung giữa bà và ông C2 bởi các lý do sau:
Nhà đất tại địa chỉ số A T, M, Cầu G, TP . được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở mang tên ông Vũ Chí C2 (vợ là Phạm Thị Hồng N4 đã chết). Bà và ông Vũ Chí C2 kết hôn từ năm 2002, có đăng ký kết hôn ngày 05/8/2003. Sau khi cưới ông Vũ Chí C2 đã tự nguyện nhập khối tài sản này vào khối tài sản chung của bà và ông Vũ Chí C2, như vậy tài sản này không còn là tài sản chung của ông Vũ Chí C2 và bà Phạm Thị Hồng N4 nữa.
Năm 2007 khi chị Vũ Minh N đi du học tại Trung Quốc, bà và ông Vũ Chí C2 đã phải vay mượn tiền để đóng cho chị N đi du học. Chị N đã viết một giấy từ chối tài sản với nội dung chị Vũ Minh N từ chối mọi quyền lợi đối với nhà đất tại địa chỉ số A T, M, Cầu G, TP . nếu được du học tại Trung Quốc 5 năm. Chị N đã hoàn thành khóa du học theo đúng nguyện vọng nên không có quyền yêu cầu chia tài sản tại địa chỉ số A T, M, Cầu G, TP . nữa. (Hiện nay bản cam kết này bà Nguyễn Thị N2 chỉ còn giữ bản photo).
Từ năm 2018 cho đến nay chị Vũ Minh N đã cùng chồng sinh sống và làm việc tại Úc và không còn định cư tại Việt Nam nên không có nhu cầu cư trú tại số A T, M, Cầu G, TP ..
Hiện nay bà đang trực tiếp nuôi hai con chung của ông C2 và bà là Vũ Ngọc H4, sinh năm 2003 và Vũ Trà M, sinh năm 2008, trong đó cháu Vũ Trà M, sinh năm 2008 là người chưa thành niên. Nhà đất tại số A T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội hiện nay là nguồn thu nhập duy nhất để nuôi con của ông bà.
Bà Nguyễn Thị N2 yêu cầu Tòa án giao cho bà sở hữu nhà và đất tại số A T, M, Cầu G, thành phố Hà Nội và giao cho chị Vũ Minh N nhà đất tại số E TDP T, phường T, quận B, Hà Nội. Bà có trách nhiệm thanh toán toàn bộ chênh lệch bằng tiền cho những người thừa kế khác.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại cấp phúc thẩm các đương sự đề nghị Toà án định giá lại 2 khối tài sản là nhà đất hiện đang tranh chấp, Toà án đã tiến hành định giá 2 tài sản, tuy nhiên Hội đồng định giá không thể xác định được giá vào thời điểm xét xử sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
1. Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị N2 kháng cáo bản án sơ thẩm số 45/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội là trong thời hạn kháng cáo. Bà Nguyễn Thị N2 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Do vậy kháng cáo hợp lệ về hình thức.
Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký đã tiến hành tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký Tòa án: Các thẩm phán tham gia phiên tòa và thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về thẩm quyền: Bản án sơ thẩm số 45/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Căn cứ Điều 38 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án thành phố Hà Nội đã thụ lý phúc thẩm và giải quyết đúng thẩm quyền.
- Về thụ lý và thông báo thụ lý: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã Thông báo việc thụ lý cho đương sự và VKS theo đúng qui định tại điều 285 BLTTDS.
- Triệu tập đầy đủ những người tham gia tố tụng theo quy định tại điều 294 BLTTDS
- Trình tự diễn biến tại phiên tòa đúng theo các quy định tại điều 297, điều 298, điều 302, điều 303, điều 305, điều 306 của BLTTDS;
2. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, điều 71, điều 72, điều 73 BLTTDS năm 2015.
3. Về nội dung vụ án
Sau khi phân tích, đánh giá về nội dung vụ án Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 308 BLTTDS, huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 45/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, giao lại hồ sơ về Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm với lý do chưa làm rõ nguồn gốc nhà đất tại số E TDP T, phường T, quận B, Hà Nội và có trong quy hoạch dự án nào không vì liên quan đến giá trị kỷ phần thừa kế các đương sự được hưởng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí theo quy định. Vì vậy, kháng cáo là hợp lệ về hình thức.
[2]. Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn, bà Nguyễn Thị N2.
[2.1] Về quan hệ huyết thống: Ông Vũ Chí C2 kết hôn với bà Phạm Thị Hồng N4, có 01 con chung là chị Vũ Minh N. Bà N4 chết năm 1998, ông C2 sau đó kết hôn với bà Nguyễn Thị N2 và có 02 con chung là Vũ Ngọc H4, Vũ Trà M. Năm 2017, ông C2 chết. Bố đẻ của ông C2 là cụ ông Vũ Văn K (Chết năm 2016) và cụ bà Lại Thị H5 (Chết năm 2018). Cụ K và cụ H5 có 03 người con hiện còn sống là: Bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L và ông Vũ Chí C. Bà Phạm Thị Hồng N4 có bố đẻ là cụ Phạm Văn T1 và mẹ đẻ là cụ Nguyễn Thị L1.
[2.2] Xác định di sản thừa kế:
Nguyên đơn xác định di sản thừa kế là nhà đất tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là Số A phố T, phường M, quận C, Hà Nội là di sản thừa kế của ông Vũ Chí C2 và bà Phạm Thị Hồng N4. Bị đơn thì xác định di sản này là tài sản của ông C2 đã nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng ông C2 và N2. Toà án cấp sơ thẩm nhận định: Nhà đất tại địa chỉ Số A T, M, Cầu G, Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 10113071224 ngày 02/12/2002 đứng tên ông Vũ Chí C2 (Vợ là Phạm Thị Hồng N4 đã chết). Nhà đất trên có nguồn gốc Nhà nước cấp cho ông Nguyễn Vượng. Sau đó, ông V1 chuyển nhượng lại cho ông Vũ Chí C2 (Theo hồ sơ do Văn phòng Đ cung cấp cho Tòa án cấp sơ thẩm theo Công văn số 5014/VPĐKĐĐ-TTLT ngày 01/6/2020). Ông C2 sau đó đã kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn không xuất trình được tài liệu chứng cứ để chứng minh đó là tài sản riêng của ông C2 đã được nhập vào tài sản chung của ông C2 và bà N2. Toà án cấp sơ thẩm xác định nhà đất tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là Số A phố T, phường M, quận C, Hà Nội) là di sản do ông Vũ Chí C2 và bà Phạm Thị Hồng N4 để lại là có căn cứ.
Đối với 01 xe ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A-41065 sản xuất năm 2011, đăng ký xe số 056466 ngày 27/10/2011 đứng tên bà Nguyễn Thị N2 thì cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định đây là tài sản chung của ông Vũ Chí C2 và bà Nguyễn Thị N2. Trong đó ½ giá trị tài sản trên là di sản của ông C2 để lại.
Đối với nhà đất tại Số E, TDP T, phường T, quận B, Hà Nội. Toà án cấp sơ thẩm nhận định, nguyên đơn xác định nhà đất này là tài sản chung của ông C2 và bà N2. Bị đơn và những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bên gia đình bà Nguyễn Thị N2 có ý kiến cho rằng đây là tài sản của cụ Nguyễn Huy T3 và Đặng Thị N3 (Là bố mẹ của ông H1, ông P, ông C2, bà N2, bà T2, bà H3). Về nguồn gốc đất do cụ T3, cụ N3 nhận chuyển nhượng lại bằng giấy tờ viết tay. Tuy nhiên, ngoài những ý kiến trên bà N2 và những người thừa kế của cụ T3 không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nhà đất này là tài sản của cụ T3 và cụ N3. Mặt khác, quá trình Tòa án sơ thẩm xác minh tại UBND phường T (Biên bản xác minh ngày 25/7/2019) thể hiện: Nhà đất tại Số E, TDP T, phường T, quận B, Hà Nội theo Bản đồ và sổ dã ngoại năm 1987: Thửa đất số 15 Tờ bản đồ số 3, chủ sử dụng Đinh Thị M1. Tờ bản đồ năm 1994, Thửa đất số 2 và Thửa đất số 5 tờ bản đồ số 26 thể hiện chủ sử dụng đất hộ ông Nguyễn Xuân K1 và bà Đinh Thị M1. Ông C2 bà N2 đã nhận chuyển nhượng đất từ bà M1 và gia đình ông Nguyễn Xuân K1. Sau đó ông Vũ Chí C2, bà Nguyễn Thị N2 đi kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tuy nhiên đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Đinh Thị M1, ông Nguyễn Xuân K1 đều thể hiện bà N2 trực tiếp nhận chuyển nhượng đất từ bà M1 chứ không phải là bố mẹ bà N2 (Cụ T3, cụ N3) nhận chuyển nhượng đất (BL 129, 130, 146). Mặt khác, UBND phường T cung cấp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tại Số E, TDP T, phường T, quận B, Hà Nội thể hiện người kê khai là ông Vũ Chí C2, bà Nguyễn Thị N2. Bà N2 cũng tự ký tên vào Bản kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện cụ T3, cụ N3 ủy quyền cho bà N2 đi kê khai. Vì vậy, ý kiến của Nguyên đơn về việc xác định nhà đất tại số E, TDP T, phường T, quận B, Hà Nội là di sản thừa kế của ông Vũ Chí C2 là có căn cứ và phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị đơn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nhà đất tại Số E, TDP T, phường T, quận B, Hà Nội là tài sản của cụ Nguyễn Huy T3 và Đặng Thị N3, nên Tòa án cấp sơ thẩm không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này, nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
[2.3] Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị N2 cho rằng: Chị Vũ Minh N có Bản cam kết ngày 23/9/2007 với nội dung cam kết không đòi quyền lợi gì về tài sản của ông C2 nếu như được đi du học Trung Quốc và cam kết học tập tốt. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Về hình thức tài liệu bà N2 giao nộp cho Tòa án là bản photo và không có xác nhận chữ ký của chị Vũ Minh N của cơ quan có thẩm quyền, tại cấp phúc thẩm bà N2 giao nộp cho Tòa án bản chính Bản cam kết này. Tuy nhiên xét về nội dung văn bản không thể hiện đây là Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định không có cơ sở để chấp nhận ý kiến của Bị đơn cho rằng chị Vũ Minh N từ chối nhận di sản thừa kế từ ông Vũ Chí C2 là có căn cứ.
[2.4] Đối với ý kiến của Bà Nguyễn Thị N2 và Người đại diện theo ủy quyền cho rằng: Trong quá trình hôn nhân, giữa ông C2 và bà N4 (Mẹ đẻ chị N) có 02 khối tài sản chung là: Nhà đất tại số A phố T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội và 02 gian tập thể tại Viện Chăn nuôi. Năm 2005, ông C2 đã giao 02 gian tập thể tại Viện chăn nuôi T, cho bố mẹ đẻ bà N4 để đối trừ phần tài sản của bà N4 trong khối tài sản chung là nhà đất tại số S phố T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội để ông C2 được toàn quyền sở hữu toàn bộ tài sản này. Tuy nhiên, Bị đơn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh thỏa thuận giữa ông Vũ Chí C2 và cụ Phạm Văn T1, cụ Nguyễn Thị L1 nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đối trừ phần tài sản của ông C2 cho bà N4 là có cơ sở.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định:
- Di sản thừa kế của ông Vũ Chí C2 và bà Phạm Thị Hồng N4 để lại là: 01 nhà đất 02 tầng 01 tum tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là Số A phố T, phường M), quận C, thành phố Hà Nội. Nhà đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số 10113071224, hồ sơ gốc số 8234/2002 do UBND thành phố U cấp ngày 02/12/2002 đứng tên ông Vũ Chí C2 (Vợ là Phạm Thị Hồng N4, đã chết); Diện tích: 34,8m². Theo kết quả định giá tài sản xác định tổng giá trị tài sản nhà đất là: 15.840.058.880 (Biên bản định giá ngày 14/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản quận C và Chứng thư thẩm định giá ngày 09/12/2019 của Công ty cổ phần G1 và thẩm định tài sản Việt Nam).
- Di sản thừa kế của ông Vũ Chí C2 để lại là:
Tài sản 1: ½ giá trị nhà đất tại số E TDP T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 09/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản quận B xác định tổng giá trị tài sản là: 3.792.949.055 đồng.
Tài sản 2: ½ giá trị ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A- 41065 sản xuất năm 2011, đăng ký xe số 056466 ngày 27/10/2011. Theo Biên bản định giá tài sản ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản quận B xác định tổng giá trị tài sản là: 250.000.000 đồng.
[2.5] Do ông Vũ Chí C2, bà Phạm Thị Hồng N4 chết không để lại di chúc, Hội đồng xét xử sơ thẩm chia thừa kế theo pháp luật đối với khối di sản thừa kế nêu trên, cụ thể như sau:
Xác định thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của bà Phạm Thị Hồng N4 là năm 1998. Hàng thừa kế thứ nhất của bà N4 gồm: Cụ Phạm Văn T1, cụ Nguyễn Thị L1, ông Vũ Chí C2 (Đã chết), chị Vũ Minh N. Di sản thừa kế mà bà N4 để lại là tài sản tương ứng với ½ giá trị nhà đất tại địa chỉ số A T, M, Cầu G, thành phố Hà Nội.
Xác định thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của ông Vũ Chí C2 là năm 2017. Hàng thừa kế thứ nhất của ông C2 gồm: Cụ Lại Thị H5 (Thời điểm ông C2 chết, cụ H5 còn sống), bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Minh N, chị Vũ Ngọc H4, cháu Vũ Trà M. Năm 2018, cụ H5 chết, những Người thừa kế thế vị của cụ H5 là bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L và ông Vũ Chí C. Di sản thừa kế mà ông C2 để lại là tài sản tương ứng với ½ giá trị nhà đất và 01 kỷ phần thừa kế của ông C2 từ bà N4 (Tương ứng với 1/8 giá trị nhà đất) tại địa chỉ số A T, M, quận C, thành phố Hà Nội; ½ giá trị nhà đất tại số E, TDP T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội và ½ giá trị chiếc xe ô tô Huyndai hàn quốc, BKS 29A - 41.065.
Chia di sản thừa kế cụ thể như sau:
- Đối với nhà đất tại số A T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội là tài sản chung là ông C2 và bà N4 trị giá 15.840.058.880 đồng. Trong đó:
Di sản thừa kế của bà N4 để lại bằng ½ giá trị nhà đất trên là 7.920.029.440 đồng. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N4 là cụ T1, cụ L1, ông C2, chị N mỗi người được nhận 01 kỷ phần thừa kế tương ứng với : 7.920.029.440 đồng : 4 = 1.980.007.360 đồng.
Cụ T1 và cụ L1 tự nguyện nhượng lại toàn bộ kỷ phần thừa kế được hưởng cho chị N. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự, không vi phạm điều cấm của Luật và đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do đó, chị N được nhận ¼ kỷ phần thừa kế của bà N4 tổng là 5.940.022.080 đồng. Ông C2 được nhận ¼ kỷ phần thừa kế của bà N4 là 1.980.007.360 đồng.
Di sản thừa kế của ông C2 để lại bao gồm ½ giá trị nhà đất và 01 kỷ phần thừa kế của ông C2 từ bà N4 (Tương ứng với 1/8 giá trị nhà đất) tại địa chỉ Số A T, M, Cầu G, TP . có giá trị là: 7.920.029.440 đồng + 1.980.007.360 đồng = 9.900.036.800 đồng.
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông C2 là cụ H5 (Thời điểm ông C2 chết cụ H5 vẫn còn sống), bà N2, chị N, chị H4, cháu M mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế tương ứng với: 9.900.036.800 đồng : 5 = 1980.007.360 đồng.
Những người thừa kế thế vị của cụ H5 là bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí C mỗi người được nhận 1/3 kỷ phần thừa kế của cụ H5 tương ứng với : 1980.007.360 đồng: 3 = 660.002.453 đồng.
Bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí C có ý kiến nhường lại toàn bộ kỷ phần thừa kế của mình cho chị Vũ Minh N. Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự, không vi phạm điều cấm của Luật và đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do đó, chị Vũ Minh N được nhận 2/5 kỷ phần thừa kế của ông C2 là 3.960.014.720 đồng. Bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Ngọc H4 và chị Vũ Trà M mỗi người nhận được 01 kỷ phần thừa kế là 1.980.007.360 đồng.
Như vậy, Chị Vũ Minh N được hưởng kỷ phần thừa kế đối với di sản là nhà đất tại số A T của bà Phạm Thị Hồng N4 và ông Vũ Chí C2, bao gồm cả kỷ phần thừa kế được nhận từ ông T1, cụ L1, bà T, bà L, ông C tổng cộng : 5.940.022.080 đồng + 3.960.014.720 đồng = 9.900.036.800 đồng. Bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Ngọc H4, cháu Vũ Trà M mỗi người được hưởng kỷ phần thừa kế của ông Vũ Chí C2 là 1. 980.007.360 đồng.
Xét yêu cầu chia thừa kế bằng hiện vật của Nguyên đơn, bị đơn và ý kiến của các đương sự khác, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông C2 và bà N4 (Bố mẹ đẻ của chị N). Nhà, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 10113071224 do U cấp ngày 02/12/2002 đứng tên ông Vũ Chí C2 (Vợ là Phạm Thị Hồng N4 đã chết). Đây là di sản duy nhất bố mẹ đẻ chị N để lại và có nguồn gốc hình thành do công sức của ông C2, bà N4 tạo dựng lên. Cả nguyên đơn và Bị đơn đều đề nghị được chia thừa kế bằng hiện vật đối với nhà đất này. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định, bà Nguyễn Thị N2 đã có chỗ ở ổn định tại địa chỉ Số E TDP T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Đối với chị N có ý định về nước định cư nhưng chưa có chỗ ở hay tài sản là bất động sản nào khác, đồng thời xem xét đến yếu tố tinh thần, là kỷ vật duy nhất còn lại của bố mẹ đẻ chị N. Vì vậy, yêu cầu của Nguyên đơn được chia nhà đất tại Số A T, M, Cầu G, Hà Nội là có căn cứ, phù hợp thực tế và quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc giao nhà đất tại Số A T, M, Cầu G, Hà Nội cho chị Vũ Minh N.
Do giá trị nhà đất cao hơn giá trị kỷ phần thừa kế mà chị N được hưởng, nên chị N phải có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác. Cụ thể, thanh toán cho bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Ngọc H4 và cháu Vũ Trà M mỗi người 1.980.007.360 đồng.
- Đối với nhà đất tại số E TDP T, T, B, TP . trị giá 3.792.949.055 đồng. Trong đó:
+ Bà Nguyễn Thị N2 được hưởng ½ giá trị nhà đất trên tương ứng với 1.896.474.527 đồng;
+ Di sản thừa kế của ông C2 bằng ½ giá trị nhà đất trên là 1.896.474.527 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy cần chia cho bà N2 01 kỷ phần thừa kế là công sức, duy trì tôn tạo tài sản tại số nhà E Tổ dân phố T, T, B, Hà Nội tương ứng với 01 kỷ phần thừa kế = 1/5 phần di sản của ông C2 tại nhà, đất trên là 350.000.000 đồng. Nên di sản thừa kế của ông C2 còn lại trị giá là: 1.896.474.527 – 350.000.000 đồng = 1.546.474.527 đồng.
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông C2 là cụ H5 (Thời điểm ông C2 chết cụ H5 vẫn còn sống), bà N2, chị N, chị H4, cháu M mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế tương ứng với: 1.546.474.527 đồng : 5 = 309.294.950 đồng.
Những người thừa kế thế vị của cụ H5 là bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí C mỗi người được nhận 1/3 kỷ phần thừa kế của cụ H5 tương ứng với : 309.294.950 đồng: 3 = 103.098.301 đồng.
Bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí C có ý kiến nhường lại toàn bộ kỷ phần thừa kế của mình cho chị Vũ Minh N.
Do đó chị Vũ Minh N được nhận 2/5 kỷ phần thừa kế của ông C2 là 618.589.900. Bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Ngọc H4 và chị Vũ Trà M mỗi người nhận được 01 kỷ phần thừa kế là 309.294.950 đồng.
Hiện nay, Bị đơn là bà Nguyễn Thị N2 đang quản lý, sử dụng nhà đất trên. Nguyên đơn, những Người có quyền thừa kế phần di sản của ông C2 tại nhà đất này đều đề nghị Tòa án chia thừa kế nhà đất này theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử sơ thẩm tiếp tục giao nhà đất tại E TDP T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội cho bà Nguyễn Thị N2 sử dụng, quản lý là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Do giá trị nhà đất cao hơn giá trị kỷ phần thừa kế mà bà N2 được hưởng, nên bà N2 phải có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác. Cụ thể, thanh toán cho chị Vũ Minh N số tiền 618.598.900 đồng (Sáu trăm mười tám triệu năm trăm chín tám nghìn chín trăm đồng), chị Vũ Ngọc H4 và cháu Vũ Trà M mỗi người 309.294.950 đồng (Ba trăm linh chín triệu hai trăm chín tư nghìn chín trăm lăm mươi đồng).
- Đối với 01 ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A-41065 mang tên bà Nguyễn Thị N2 trị giá 250.000.000 đồng. Trong đó:
+ Bà Nguyễn Thị N2 được hưởng ½ giá trị chiếc xe trên tương ứng với 125.000.000 đồng;
+ Di sản thừa kế của ông C2 bằng ½ giá trị chiếc xe trên là 125.000.000 đồng.
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông C2 là cụ H5 (Thời điểm ông C2 chết cụ H5 vẫn còn sống), bà N2, chị N, chị H4, cháu M mỗi người được hưởng 01 kỷ phần thừa kế tương ứng với: 125.000.000 đồng : 5 = 25.000.000 đồng.
Những người thừa kế thế vị của cụ H5 là bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí C mỗi người được nhận 1/3 kỷ phần thừa kế của cụ H5 tương ứng với : 25.000.000 đồng: 3 = 8.333.333 đồng.
Bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí C có ý kiến nhường lại toàn bộ kỷ phần thừa kế của mình cho chị Vũ Minh N.
Do đó chị Vũ Minh N được nhận 2/5 kỷ phần thừa kế của ông C2 là 50.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Ngọc H4 và chị Vũ Trà M mỗi người nhận được 01 kỷ phần thừa kế là 25.000.000 đồng.
Xét thấy chiếc ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A-41065 mang tên bà Nguyễn Thị N2, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cho bà N2 quản lý, sử dụng.
Do giá trị chiếc xe cao hơn giá trị kỷ phần thừa kế mà bà N2 được hưởng, nên bà N2 phải có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác. Cụ thể, thanh toán cho chị Vũ Minh N số tiền 50.000.000 đồng, chị Vũ Ngọc H4 và cháu Vũ Trà M mỗi người 25.000.000 đồng.
Sau khi đối trừ nghĩa vụ thanh toán thì các đương sự phải thanh toán cho nhau số tiền như sau:
- Chị Vũ Minh N phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị N2 số tiền là 1.311.417.460 đồng. Thanh toán cho chị Vũ Ngọc H4 và cháu Vũ Trà M mỗi người số tiền là 1.980.007.360 đồng.
- Bà Nguyễn Thị N2 phải thanh toán cho chị Vũ Ngọc H4 và Vũ Trà M mỗi người số tiền là: 334.294.950 đồng.
Do cháu Vũ Trà M chưa đủ 18 tuổi nên tạm giao số tiền 2.314.302.310 đồng của cháu M được hưởng cho bà Nguyễn Thị N2 là người giám hộ trực tiếp quản lý cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Nhận định và cách chia như trên của Toà án cấp sơ thẩm là phù hợp với nội dung cần được giải quyết trong vụ án và phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N2 nên giữ nguyên bản án sơ thẩm số 45/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội về.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Minh N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với kỷ phần thừa kế của bà N4, ông C2 (bao gồm cả kỷ phần thừa kế của cụ T1, cụ L1, Bà T, B, ông C nhường lại).
Bà Nguyễn Thị N2 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với kỷ phần thừa kế của ông C2.
Chị Vũ Ngọc H4 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với kỷ phần thừa kế của ông C2.
Án phí phúc thẩm: Án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 45/2022/DS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38; Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 148; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 609, Điều 611, Điều 612,Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 651, Điều 652 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Minh N đối với bà Nguyễn Thị N2.
Xác định thời điểm mở thừa kế :
Thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của bà N4 là năm 1998. Hàng thừa kế thứ nhất của bà N4 gồm: Cụ Phạm Văn T1, cụ Nguyễn Thị L1, ông Vũ Chí C2 (Đã chết), chị Vũ Minh N.
Thời điểm mở thừa kế đối với phần di sản của ông C2 là năm 2017. Hàng thừa kế thứ nhất của ông C2 gồm: Cụ Lại Thị H5 (Thời điểm ông C2 chết, cụ H5 còn sống), bà Nguyễn Thị N2, chị Vũ Minh N, chị Vũ Ngọc H4, cháu Vũ Trà M. Năm 2018, cụ H5 chết, những Người thừa kế thế vị của cụ H5 là bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị L và ông Vũ Chí C.
Ghi nhận sự tự nguyện của cụ T1, cụ L1, bà T, bà L, ông C để lại toàn bộ kỷ phần thừa kế các ông bà được nhận cho chị Vũ Minh N.
Xác định di sản thừa kế:
- Di sản thừa kế của bà Phạm Thị Hồng N4 để lại là tài sản tương ứng với ½ giá trị nhà đất tại địa chỉ số A phố T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội có giá trị: 7.920.029.440 đồng (Bảy tỷ chín trăm hai mươi triệu không trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm bốn mươi đồng).
- Di sản thừa kế của ông Vũ Chí C2 được chia thừa kế theo pháp luật gồm: tài sản tương ứng với ½ giá trị nhà đất và 01 kỷ phần thừa kế của ông C2 từ bà N4 (Tương ứng với 1/8 giá trị nhà đất) tại địa chỉ số A phố T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội; ½ giá trị nhà đất tại số E TDP T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội và ½ giá trị chiếc xe ô tô Huyndai hàn quốc, BKS 29A.41.065. Như vậy, di sản thừa kế của ông C2 có tổng giá trị là : 7.920.029.440 đồng + 1.980.007.360 đồng + 125.000.000 đồng + 1.896.474.528 đồng – 350.000.000 đồng (công sức tôn tạo nhà đất tại T của bà N2) = 11.571.511.327 (Mười một tỷ năm trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm mười một nghìn ba trăm hai mươi bảy đồng).
Chia thừa kế bằng hiện vật:
- Chia cho chị Vũ Minh N được hưởng toàn bộ quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên đất là: 01 nhà đất 02 tầng 01 tum tại số I, tổ A, khu văn công quân đội, phố M (nay là Số A phố T, phường M), quận C, Hà Nội. Nhà đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số 10113071224, hồ sơ gốc số 8234/2002 do U cấp ngày 02/12/2002 đứng tên ông Vũ Chí C2 (Vợ là Phạm Thị Hồng N4) đã chết; Diện tích: 34,8m².
- Chia cho bà Nguyễn Thị N2 sở hữu và sử dụng 01 ô tô 04 chỗ Huyndai, BKS 29A-41065 sản xuất năm 2011, đăng ký xe số 056466 ngày 27/10/2011. Bà N2 có quyền quản lý và sử dụng nhà đất tại số E TDP T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội và có quyền đề nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với tài sản trên.
Chị Vũ Minh N có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị N2 số tiền là 1.311.417.460 (Một tỷ ba trăm mười một triệu bốn trăm mười bảy nghìn bốn trăm sáu mươi đồng). Thanh toán cho chị Vũ Ngọc H4 và cháu Vũ Trà M mỗi người số tiền là 1.980.007.360 đồng (Một tỷ chín trăm tám mươi triệu không trăm linh bảy nghìn ba trăm sáu mươi đồng).
- Bà Nguyễn Thị N2 phải thanh toán cho chị Vũ Ngọc H4 và Vũ Trà M mỗi người số tiền là: 334.294.950 đồng (Ba trăm ba tư triệu hai trăm chín tư nghìn chín trăm lăm mươi đồng).
Tạm giao số tiền 2.314.302.310 đồng (Hai tỷ ba trăm mười bốn triệu ba trăm linh hai nghìn ba trăm mười đồng) của cháu Vũ Trà M được hưởng cho bà Nguyễn Thị N2 là người giám hộ trực tiếp quản lý cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chưa trả theo mức lãi suất theo khoản 2 Điều 408 Bộ luật Dân sự.
Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Minh N phải chịu án phí dân sự đối với kỷ phần thừa kế của bà N4, ông C2 (bao gồm cả kỷ phần thừa kế của cụ T1, cụ L1, Bà T, B, ông C nhường lại) là 118.568.627 đồng (Một trăm mười tám triệu năm trăm sáu tám nghìn sáu trăm hai bảy đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai 0002517 ngày 5/1/2019 là 30.000.000 đồng. Chị Vũ Minh N còn phải nộp 88.568.627 đồng (T5 mươi tám triệu năm trăm sáu tám nghìn sáu trăm hai bảy đồng).
Bà Nguyễn Thị N2 phải chịu án phí dân sự đối với kỷ phần thừa kế của ông C2 là 85.286.046 đồng (Tám mươi năm triệu hai trăm tám sáu nghìn không trăm bốn sáu đồng).
Chị Vũ Ngọc H4 phải chịu án phí dân sự đối với kỷ phần thừa kế của ông C2 là 78.286.046 đồng (Bảy mươi tám triệu hai trăm tám sáu nghìn không trăm bốn sáu đồng).
Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị N2 đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0043334 ngày 12 tháng 9 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, được trừ vào án phí phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm xét xử công khai và có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thanh Bình |
Bản án số 631/2024/DS - PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 631/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
