Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 630 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/9/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức Lưu

2. Ông Nguyễn Trọng Điệp

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 533 /2024/TLST - HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Minh H, sinh năm 1989; ĐKHKTT: Số B, ngách C T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội. Nơi ở: Phòng 1903, Tòa M, Tòa nhà H, F V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1992; ĐKHKTT và nơi ở: A Quán T, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai gửi Tòa án, chị Vũ Thị Minh H trình bày:

Về tình cảm: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T kết hôn ngày 09 tháng 10 năm 2020 tại UBND phường B, quận T, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Anh, chị đã sống ly thân. Chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Anh T.

Về con chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T có 01 con chung là: Nguyễn Minh H1, sinh ngày: 15/07/2020. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung vì hiện nay chị vẫn đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị H yêu cầu anh Nguyễn Anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nhà ở: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về khoản nợ: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai anh Nguyễn Anh T trình bày:

Về tình cảm: Anh Nguyễn Anh T đồng ý với những ý kiến chị Vũ Thị Minh H đã trình bày về điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Anh Tú đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị H được thuận tình ly hôn.

Về con chung: Anh Nguyễn Anh T và chị Vũ Thị Minh H có 01 con chung là: Nguyễn Minh H1, sinh ngày: 15/07/2020. Anh T đồng ý để chị H được trực tiếp nuôi con chung. Anh Tú tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2024 đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản chung và nhà ở: Anh Nguyễn Anh T và chị Vũ Thị Minh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về khoản nợ: Anh Nguyễn Anh T và chị Vũ Thị Minh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Chị Vũ Thị Minh H đề nghị Tòa án ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị. Chị H giữ nguyên các yêu cầu về con chung, về tài sản chung, về nợ chung như đã trình bày.

Anh Nguyễn Anh T đề nghị Tòa án ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị. Anh Tú giữ nguyên các yêu cầu về con chung, về tài sản chung, về nợ chung như đã trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng theo Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Đối với đương sự, Nguyên đơn và bị đơn đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình qui định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Điều 234 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 để xem xét: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T. Chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị Minh H về việc nuôi con chung: Giao con Nguyễn Minh H1, sinh ngày 15/07/2020 cho chị Vũ Thị Minh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Anh T tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng. Về tài sản, nhà ở và nợ chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T xác định không có, không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Nguyễn Anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: A Quán T, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn 09 tháng 10 năm 2020 tại UBND phường B, quận T, thành phố Hà Nội. Tại phiên tòa, anh T đồng ý ly hôn chị H nên ghi nhận sự thuận tình ly hôn chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T .

Về con chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T có 01 con chung là: Nguyễn Minh H1, sinh ngày: 15/07/2020. Anh chị thống nhất thỏa thuận để chị Vũ Thị Minh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Minh H1, sinh ngày 15/07/2020. Anh Nguyễn Anh T tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2024 đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.

Xét thấy, chị H anh T đều thống nhất việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị. Giao con Nguyễn Minh H1, sinh ngày: 15/07/2020 cho chị Vũ Thị Minh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Tú tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2024 đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản chung, nhà ở và nợ chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị Vũ Thị Minh H tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 70; khoản 4 Điều 147; Điều 203; Điều 228; Điều 267; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng Điều 55; Điều 58; khoản 1 Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T.
  2. Về con chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T có 01 con chung là: Nguyễn Minh H1, sinh ngày 15/07/2020. Anh chị thống nhất thỏa thuận để chị Vũ Thị Minh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Minh H1, sinh ngày 15/07/2020. Anh Nguyễn Anh T tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2024 đến khi con chung trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Anh Nguyễn Anh T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  3. Về tài sản, nhà ở chung: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  4. Về khoản nợ: Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T xác định không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  5. Về án phí sơ thẩm: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị Minh H chịu cả 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0030375 ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, Chị Vũ Thị Minh H và anh Nguyễn Anh T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình, TPHN;
  • - UBND phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đinh Ngọc Liên

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 630/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 630/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger