Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Yến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Lý;

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Văn T, sinh năm 2001, tại tỉnh Long An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn B và bà Châu Thị K; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-02-2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Phạm Thị C, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Thị K, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 02-12-2023, Phan Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định, trong máu có nồng độ cồn là 263.3 mg/100ml, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Blade, biển số 62P2-415.09 lưu thông trên đường hương lộ theo hướng từ xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đến xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Khi đến khu vực nhà ông Nguyễn Thành C1, sinh năm 1965 thuộc ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, T điều khiển xe mô tô lấn sang phần đường bên trái va chạm với phần trước bên trái xe mô tô nhãn hiệu CICERO biển số 70K2-2738 do anh Nguyễn Văn H điều khiển theo hướng ngược lại đúng quy định. Hậu quả, anh H bị thương tích được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đ, sau đó chuyển đến Bệnh viện C2, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đến ngày 08-12-2023 thì tử vong.

- Phiếu xét nghiệm lúc 00 giờ 10 phút ngày 03-12-2023 tại Bệnh viện Đ thể hiện: Nồng độ cồn trong máu của Phan Văn T là 263.3 mg/100ml.

- Tại Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 45/KLGĐTT-TTPYTN ngày 01-4-2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Nguyễn Văn H tử vong là do nứt xương hộp sọ, tụ máu dưới màng cứng, dập não/Chân thương sọ não.

- Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 06-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: Xe mô tô biển số 70K2-2738, hiệu CICERO, thiệt hại giá trị là 1.410.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSTrB ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố Phan Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Châu Thị K trình bày: Bà là mẹ của bị cáo, bà đã thay bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng, bà không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt: căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bà Phạm Thị C không yêu cầu bị cáo Phan Văn T phải bồi thường gì thêm.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo T và bà Châu Thị K không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Phạm Thị C vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra bà C đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, sự vắng mặt của bà C không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 02-12-2023, trên đường H thuộc ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Phan Văn T trong máu có nồng độ cồn là 263.3 mg/100ml, không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 62P2-415.09 lưu thông không đúng phần đường quy định gây tai nạn giao thông làm anh Nguyễn Văn H tử vong.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hành vi của bị cáo Phan Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ nhưng không có giấy phép lái xe, đi không đúng phần đường quy định là vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, mặt khác bị cáo tham gia giao thông khi đã sử dụng rượu, bia là vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia và có thể gây ra tai nạn, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác bất cứ lúc nào nhưng bị cáo vẫn chủ quan, điều khiển xe mô tô tham gia giao thông và không tuân thủ các quy định của Luật Giao thông đường bộ đã gây tai nạn giao thông, vì vậy nguyên nhân chính gây ra tai nạn là do bị cáo. Do đó cân xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, bị cáo đã bồi thường và tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại; trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Các biện pháp tư pháp:

[6.1] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường 95.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm và bà K không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 30.000.000 đồng mà bà đã thay bị cáo trả cho gia đình bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6.2] Về xử lý vật chứng:

Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Blade, loại xe: 02 bánh, dung tích 109,1cm³, màu sơn: xanh – đen – xám, biển số 62P2-415.09, số máy JA36E1123817, số khung RLHJA3687NY022358. Qua xác minh thể hiện, xe này do Phan Văn T đăng ký đứng tên chủ sở hữu nên cần trả lại cho bị cáo.

Xe mô tô nhãn hiệu Cicero, số loại: 110, loại xe: 02 bánh, dung tích: 108cm³, màu sơn: xanh, biển số 70K2-2738, số máy: không có, số khung: VLMDCH022HV – 003995. Qua xác minh thể hiện, xe này do bà Nguyễn Thị M đăng ký đứng tên chủ sở hữu, năm 2010 bà M đã bán xe này cho người khác, không rõ họ tên, địa chỉ. Hiện xe này do bị hại Nguyễn Văn H quản lý, sử dụng hợp pháp, bà C có yêu cầu được nhận lại xe nên cần trả lại xe này cho đại diện bị hại là bà Phạm Thị C.

Các mảnh vỡ nhựa, bạc đạn, bộ phận lốc máy xe bằng kim loại bị vỡ: không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa là có căn cứ.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bà Phạm Thị C không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Ghi nhận bà Châu Thị K không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Trả lại cho bị cáo Phan Văn T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Blade, loại xe: 02 bánh, dung tích 109,1cm³, màu sơn: xanh – đen – xám, biển số 62P2-415.09, số máy JA36E1123817, số khung RLHJA3687NY022358.
  • - Trả lại cho bà Phạm Thị C: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Cicero, số loại: 110, loại xe: 02 bánh, dung tích: 108cm³, màu sơn: xanh, biển số 70K2-2738, số máy: không có, số khung: VLMDCH022HV – 003995.
  • - Tịch thu tiêu hủy: Các mảnh vỡ nhựa, bạc đạn, bộ phận lốc máy xe bằng kim loại bị vỡ.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18-7-2024)

4. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao TP.HCM;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND thị xã Trảng Bàng;
  • - Cơ quan Thi hành án Hình sự;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng;
  • - Nhà tạm giữ CA thị xã Trảng Bàng;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Thị Phương Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger