Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ YÊN,

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Bống

Bà Lý Thị Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lường Thị Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Sồng Thị D, sinh ngày 15 tháng 01 năm 1994 tại Phù Yên – Sơn La. Nơi cư trú: Bản X, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sống A T (đã chết) và bà Tráng Thị Ch; có chồng và 05 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.

- Người phiên dịch: ông Lò Như Hoa, sinh năm 1954; nghề nghiệp: Giáo viên tiếng Mông (đã nghỉ hưu); địa chỉ: bản Giáo, xã Huy Tân, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17giờ ngày 06/5/2024, trên đường đi từ bản Suối Khang, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên về nhà ở bản Suối Tọ, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên. Bị cáo D gặp và hỏi mua của một người phụ nữ dân tộc Mông 01 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng, đặc điểm bên ngoài được gói bằng nilon màu xanh bên trong có 05 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, bị cáo D cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi tiếp tục đi về đến khu vực bản Lũng Khoai, xã Suối Tọ, huyện Phù Yên thì bị tổ công tác Công an xã Suối Tọ phát hiện bắt giữ.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành mở niêm phong vật chứng thu giữ của Sồng Thị D, cân tịnh và lấy mẫu giám định, kết quả cân tịnh xác định: Gói chất bột màu trắng thứ nhất là 0,103 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu là D1; gói chất bột màu trắng thứ hai là 0,110 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu là D2; gói chất bột màu trắng thứ ba là 0,130 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu là D3; gói chất bột màu trắng thứ tư là 0,104 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu là D4; gói chất bột màu trắng thứ năm là 0,058 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, ký hiệu là D5. Tổng khối lượng 05 gói chất bột màu trắng là 0,505 gam.

Ngày 09/5/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành kết luận số 1046/KL-KTHS, kết luận: "Mẫu ký hiệu từ D1 đến D5 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine; có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất, khối lượng của mẫu gửi giám định là D1=0,103gam; D2=0,110gam; D3=0,130gam; D4=0,104gam; D5=0,058gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,505 gam loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định."

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định nêu trên.

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 34/CT – VKS ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Sồng Thị D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Sống Thị D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Sồng Thị D từ 16 đến 20 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang, 06 mảnh nilon màu xanh; đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo Sồng Thị D trình bày ý kiến tranh luận, nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Kết thúc tranh luận, bị cáo nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Sồng Thị D khai nhận hành vi cất giữ trái phép 0,505 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ vật chứng, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, hành vi của Sống Thị D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội.

[3.2] Về nhân thân, bị cáo Sồng Thị D là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp. Ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú.

[3.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bản thân là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,...” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình còn khó khăn (bút lục số 159-160). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang; 06 mảnh nilon màu xanh, xác định là vật chứng, vật không có giá trị; căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo D. Quá trình xác minh không làm rõ được họ tên, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo D, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý.

[5] Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí; căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Hội đồng xét xử cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Sồng Thị D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Sồng Thị D 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày cơ sở giam giữ có thẩm quyền tiếp nhận người chấp hành án phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu khi bắt người phạm tội quả tang; 06 mảnh nilon màu xanh (đựng trong phong bì do Công an huyện Phù Yên niêm phong).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; các Điều 14, 15; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

    Bị cáo Sồng Thị D được miễn nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/7/2024)

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại (nếu có);
  • - VKSND huyện Phù Yên; Giao
  • - Người bào chữa (nếu có);
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Cơ quan điều tra- CA huyện ;
  • - Cơ quan HSNV-CA huyện;
  • - CQ Thi hành án hình sự; Gửi
  • - Trại TG (nhà tạm giam);
  • - Sở tư pháp tỉnh;
  • - Người có QL,NVLQ (nếu có);
  • - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực);
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tân Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger