Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31 - 7 - 2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Cao
  2. Ông Phạm văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng T, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 21 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng T trình bày:

Năm 2005, bà Phạm Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn P xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Long An ngày 18/01/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Quang T1, sinh ngày 26/01/2014 và cháu Phạm Phương T2, sinh ngày 14/8/2017. Hiện bà đang trực tiêp nuôi dưỡng cháu Quang T1 và cháu Phương T2, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, yêu cầu ông Nguyễn Văn P cấp dưỡng nuôi con 900.000 đồng/cháu/tháng.

Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Hồng T xác định không tranh chấp về tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Phạm Thị Hồng T xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của bộ Luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); 02 Giấy khai sinh (bản sao); 02 Căn cước công dân (bản sao).

Cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Phạm Phương T2 có ý kiến trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được sống với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có địa chỉ tại xã L, huyện B, tỉnh Long An về việc tranh chấp “Ly hôn”. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.

[2]. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Hồng T có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

[3]. Bà Phạm Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn P xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Long An ngày 18/01/2010 theo quy định pháp luật. Căn vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn P hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

[4]. Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng đã có thời gian chung sống nhưng không đảm bảo hạnh phúc. Trong quá trình nộp đơn khởi kiện, bà T3 cho rằng giữa bà T và ông P đã phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cho bà T và ông P thời gian để đoàn tụ nhưng ông P không có ý kiến gì về việc yêu cầu ly hôn của bà T mà vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc đoàn tụ giữa các đương sự không có kết quả nên Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa bà T và ông P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho bà Phạm Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.

[5]. Về nuôi con chung: Theo lời trình bày của bà Phạm Thị Hồng T cùng các chứng do bà Phạm Thị Hồng T cung cấp thì bà T và ông P có 02 con chung tên Nguyễn Quang T1, sinh ngày 26/01/2014 và Phạm Phương T2, sinh ngày 14/8/2017. Xét thấy, cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Phạm Phương T2 đang sống cùng bà T, cuộc sống đã ổn định. Hơn nữa cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Phạm Phương T2 có nguyện vọng là muốn sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Phạm Phương T2 nên giao cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Phạm Phương T2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung sau khi bà T và ông P ly hôn không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của bà T và ông P. Bà T là người trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 900.000 đồng/cháu là phù hợp với Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên buộc ông P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Phạm Phương T2 mỗi tháng 900.000đồng/cháu, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2024 đến khi cháu Nguyễn Quang T1 và cháu Phạm Phương T2 đủ 18 tuổi.

[7]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung. Ông P vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Phạm Thị Hồng T đối với ông Nguyễn Văn P.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị Hồng T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Quang T1, sinh ngày 26/01/2014 và Phạm Phương T2, sinh ngày 14/8/2014. Ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 900.000 đồng/cháu, thời gian cấp dưỡng từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Bà Phạm Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007388 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An sang án phí. Ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
  2. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Bến Lức;
  • - UBND xã Lương Hoà;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Đặng Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Hồng Thu "Ly hôn" Nguyễn Văn Phương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger