|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/DS-ST
Ngày: 31-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 620/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 12/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1974; địa chỉ: Số nhà B, đường Đ, tổ I, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1969; địa chỉ: Số nhà A, đường Đ, tổ A, ấp P, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn L, sinh năm 1967; địa chỉ: Số nhà A, đường Đ, ấp P, xã P, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Ông Trương Minh H, sinh năm 1972; địa chỉ: Số nhà B, đường Đ, tổ I, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ 1, ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 13/11/2023 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D trình bày:
Vào năm 2022, bà D có cho bà Nguyễn Thị C vay tiền 02 lần. Mỗi lần cho vay đều có lập giấy viết tay do bà C tự viết và ký tên, lăn tay. Việc vay tiền không có thỏa thuận lãi suất, cụ thể:
- + Lần thứ nhất vào ngày 13/9/2022, bà D cho bà C vay 1.000.000.000 đồng, bà C hẹn đến ngày 13/3/2022 sẽ trả cho bà D. Lần vay này, bà C có thế chấp chọ bà D một phần đất thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 33 tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương bằng hình thức ký Hợp đồng ủy quyền ngày 13/9/2022 và giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D, để phòng trường hợp bà C không trả được tiền vay thì bà D được quyền chuyển nhượng phần đất này cho người khác để thu hồi nợ. Giấy vay 1.000.000.000 đồng ngày 13/9/2022 có ghi nội dung thế chấp này.
- + Lần thứ hai: Trước ngày 04/7/2023, bà C có hỏi vay bà D thêm 630.000.000 đồng, hẹn 01 tuần sau là đến ngày 12/7/2023 sẽ trả cho bà D thì bà D đồng ý. Tới khoảng 5-6 giờ chiều, ngày 04/7/2023, bà C đến nhà bà D, bà D đã trực tiếp giao số tiền mặt là 630.000.000 đồng cho bà C, bà C kiểm tra đủ tiền mới viết giấy vay và ký tên lăn tay rồi giao lại giấy cho bà D giữ rồi ra về. Lúc giao tiền chỉ có một mình bà D ở nhà nên không có ai chứng kiến. Lần vay này thì bà C không có thế chấp gì, bà D và bà C cũng không có thỏa thuận gộp số tiền vay 630.000.000 đồng này vào khoản vay 1.000.000.000 đồng trước đó vì phần đất bà C thế chấp vay lần đầu nếu bán đi thì cũng không chắc đủ 1.000.000.000 đồng để trả cho bà D nên lần vay 630.000.000 đồng này không có liên quan đến việc thế chấp và ký hợp đồng ủy quyền ngày 13/9/2022 trước đó.
Do bà C hứa hẹn khi vay thêm 630.000.000 đồng là để giải quyết công việc sẽ có tiền để trả cả nợ cũ 1.000.000.000 đồng cho bà D trong thời hạn 01 tuần là đến ngày 12/7/2023. Nhưng đến ngày 12/7/2023, bà C cũng không trả nên vài ngày sau – ngày 18/7/2023, bà D mới phải chuyển nhượng phần đất đã thế chấp cho bà Nguyễn Thị H1 để thu lại khoản nợ lần đầu trước với giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng.
Nguyên đơn bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị C phải trả cho bà D số tiền đã vay là 630.000.000 đồng (sáu trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu trả tiền lãi.
Ngoài ra bà D không có yêu cầu gì khác.
Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, bà C và ông L không chấp hành theo nội dung triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập theo quy định.
Quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Ngày 18/7/2023, bà H1 nhận chuyển nhượng lại thửa đất số 55, tờ bản đồ số 33 tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương từ bà Trần Thị Mỹ D với giá là
1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Bà H1 đã giao đủ tiền chuyển nhượng cho bà D và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Lần trước bà D và bà C, ông L tranh chấp với nhau về số tiền vay bao gồm 1.000.000.000 đồng có thế chấp thửa đất nêu trên và 630.000.000 đồng không có thế chấp thì ông L, bà C có yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền từ ông L, bà C cho bà D và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà D cho bà H1 nên bà H1 có đưa ra yêu cầu trong vụ án đó. Vụ án trước đó đã được đình chỉ giải quyết. Tuy nhiên trong vụ án lần này, bà D chỉ khởi kiện số tiền 630.000.000 đồng không có thế chấp phần đất đã chuyển nhượng cho bà H1; ông L, bà D cũng không có yêu cầu gì đối với hợp đồng ủy quyền từ ông L, bà C cho bà D và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà D cho bà H1 nên bà H1 không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án lần này. Đề nghị Tòa giải quyết theo quy định.
Việc bà H1 mua bán, chuyển nhượng, đầu tư đất, chồng của bà H1 không biết và không quan tâm nên không có liên quan đến việc làm ăn, mua bán đất của bà H1.
Quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Minh H trình bày:
Ông H là chồng của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D. Số tiền 630.000.000 đồng bà Trần Thị Mỹ D cho bà Nguyễn Thị C vay là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông H và bà D. Tuy nhiên việc làm ăn, sử dụng tiền trong gia đình, ông H giao cho vợ là bà D đứng ra đại diện quyết định. Ông H đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà D, đề nghị Tòa án tuyên buộc bà C trả lại cho bà D số tiền đã vay là 630.000.000 đồng, không yêu cầu trả tiền lãi. Ngoài ra ông H không có yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1 và ông H vắng mặt và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L vắng mặt không lý do.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại phiên tòa:
Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các Điều 463, 465, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Nguyễn Thị C phải trả số tiền nợ 630.000.000 đồng cho bà D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1 và ông H vắng mặt và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị C về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà C phải trả cho bà D số tiền đã vay là 630.000.000 đồng (sáu trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu trả tiền lãi.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn đã cung cấp bản chính giấy viết tay đề ngày 04/7/2023.
[2.2] Theo tài liệu, chứng cứ do Tòa án tiếp hành thu thập tại Hồ sơ vụ án dân sự số 378/2023/TLST-DS ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương:
Trong vụ án dân sự số 378/2023/TLST-DS ngày 08/8/2023, bà Trần Thị Mỹ D khởi kiện bà Nguyễn Thị C và ông Phạm Văn L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L và bà C phải trả cho bà D tổng số tiền là 1.630.000.000 đồng theo 02 giấy viết tay có nội dung cho vay tiền đề ngày 13/9/2023 và 04/7/2023. Trong đó, giấy viết tay ngày 04/7/2023 là đối tượng mà bà D đang khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai đề ngày 18/8/2023, Biên bản hòa giải ngày 18/8/2023, Biên bản hòa giải ngày 23/8/2023, bà Nguyễn Thị C đã trình bày thừa nhận vào ngày 04/7/2023, bà C có viết tờ giấy có nội dung mượn thêm số tiền 630.000.000 đồng hẹn một tuần nữa là ngày 12/7/2023 sẽ hoàn trả cho bà D. Bà C cho rằng số tiền 630.000.000 đồng này là gồm 500.000.000 đồng tiền lãi trong 10 tháng từ ngày 13/9/2022 đến ngày 04/7/2023, 130.000.000 đồng còn lại là tiền cấn trừ đất còn lại. Thực chất ngày 04/7/2023, bà D không hề đưa cho bà C số tiền 630.000.000 đồng. Tuy nhiên tại Hồ sơ vụ án dân sự số 378/2023/TLST-DS ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, bà C không đưa ra chứng cứ chứng minh số tiền 630.000.000 đồng là tiền lãi và tiền cấn trừ đất theo như lời trình bày của bà C.
[2.3] Từ lời trình bày thừa nhận của bà C có trong hồ sơ vụ án nêu trên, có đủ căn cứ để xác định bà C là người viết và ký tên, lăn tay trong giấy viết tay đề
ngày 04/7/2023 với nội dung vào ngày 04/7/2023, bà C có vay của bà D số tiền là 630.000.000 đồng, thời hạn thanh toán là ngày 12/7/2023.
Xét nội dung giấy viết tay đề ngày 04/7/2023 đều đã thể hiện rõ thông tin bên cho vay và bên vay, giá trị tiền vay, thời hạn vay và chữ ký xác nhận của bên cho vay và bên vay. Theo nội dung của văn bản này, các bên không có thỏa thuận về phương thức và thời điểm giao nhận tiền vay, do đó thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vay là thời điểm các bên ký kết hợp đồng theo quy định tại Điều 400 và Điều 401 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy, theo lời trình bày của bà C tại Hồ sơ vụ án dân sự số 378/2023/TLST-DS ngày 08/8/2023 cho rằng chỉ viết và ký tên, lăn tay trong giấy viết tay ngày 04/7/2023 chứ không nhận tiền vay là không có căn cứ.
Như vậy căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã thu thập và sự thừa nhận của các đương sự, có đủ cơ sở để khẳng định hợp đồng vay tài sản giữa bà D và bà C theo giấy viết tay ngày 04/7/2023 là có thật.
[2.4] Theo lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, bà D cho bà C vay tiền 02 lần:
- + Lần đầu vào ngày 13/9/2022, cho vay 1.000.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 13/3/2022, có thế chấp một phần đất thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 33 tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương bằng hình thức ký Hợp đồng ủy quyền ngày 13/9/2022 và giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà D. Giấy vay 1.000.000.000 đồng ngày 13/9/2022 có ghi nội dung thế chấp này;
- + Lần thứ hai vào ngày 04/7/2023, cho vay 630.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 12/7/2023, giấy viết tay đề ngày 04/7/2023 không có nội dung xác định việc thế chấp quyền sử dụng đất. Bà D cho rằng lần vay này không có thế chấp và hai bên không có thỏa thuận gộp số tiền vay 630.000.000 đồng này vào khoản vay 1.000.000.000 đồng trước đó. Bị đơn bà C cũng không có phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chứng minh có việc thỏa thuận gộp số tiền vay 630.000.000 đồng vào số tiền 1.000.000.000 đồng có thế chấp quyền sử dụng đất. Bị đơn bà C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L không có ý kiến phản hồi, không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đối với yêu cầu khởi kiện của bà D. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1 cũng không có yêu cầu gì trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với khoản vay 1.000.000.000 đồng vào ngày 13/9/2022 cũng như Hợp đồng ủy quyền ngày 13/9/2022 giữa bà C, ông L và bà D; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/7/2023 giữa bà C, ông L (do bà D đại diện) và bà H1; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 33 tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
[2.5] Xét hợp đồng vay tài sản ngày 04/7/2023 giữa bà D và bà C được lập thành văn bản; đã được các bên tham gia ký tên, ghi họ tên và lăn tay xác nhận; các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; khi tham gia ký kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Do đó căn cứ quy định tại các Điều 117 và 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng vay tài sản giữa bà D và bà C theo giấy viết tay đề ngày 04/7/2023 là hợp pháp và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Đến hạn thanh toán – ngày 12/7/2023 cho đến nay, bà C không thanh toán cho bà D theo như thoả thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà D yêu cầu bà C trả số tiền gốc đã vay là 630.000.000 đồng là phù hợp, bà D không yêu cầu tính tiền lãi nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D, buộc bị đơn bà C thanh toán cho bà D số tiền gốc đã vay là 630.000.000 đồng.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát là có phù hợp và có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu toàn bộ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 91, 92, 147, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 117, 357, 400, 401, 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị C về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D số tiền đã vay là 630.000.000 đồng (sáu trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải thanh toán cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Bị đơn bà Nguyễn Thị C phải chịu 29.200.000 đồng (hai mươi chín triệu, hai trăm nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.600.000 đồng (mười bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002223 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Nhung |
Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 63/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D đối với bị đơn bà Nguyễn Thị C về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D số tiền đã vay là 630.000.000 đồng (sáu trăm ba mươi triệu đồng).
