|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do-Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/DS-ST Ngày 30 – 9 – 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi
- Ông Đỗ Văn Kha
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên Tòa: Ông Bùi Hoàng Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên Tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 129/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐ-HPT ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn:
Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐĐịa chỉ: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Bùi Việt C – CV: Trưởng phòng quản lý rủi do. (Có mặt)
-
- Bị đơn:
Ông Lê Minh T1 - SN: 1987; Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt) -
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Huỳnh Thị Mai T2 – SN: 1987 (vợ ông T1); Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ và tại phiên tòa ông Bùi Việt C là người được ủy quyền trình bày:
Vào ngày 15/11/2022, ông Lê Minh T1 có ký Hợp đồng cấp tín dụng số: 01/2022/14391162/HĐTD với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ chi nhánh B1 – Phòng G, để vay của Ngân hàng số tiền: 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng), thời gian vay 11 tháng từ ngày 15/11/2022 đến ngày 15/10/2023, mục đích vay là Thu mua mủ cao su. Lãi suất vay tại thời điểm nhận nợ là: 13,7%/năm, cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn;
Tài sản bảo đảm nợ vay: Hợp đồng tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ký ngày 15/11/2022 giữa Ngân hàng TMCP Đ-Chi nhánh B1 G và ông Lê Minh T1 được đảm bảo bằng tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 328/2020/14391162/HĐBĐ ngày 18/09/2020 được ký giữa Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B1 với ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Thanh M được công chứng tại Văn phòng C1 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất có diện tích 7.884 m², Địa chỉ thửa đất: xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, được cấp theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AG 240987, số vào sổ H 02778/QSDĐ/975/QĐUB do UBND thị xã Đ cấp ngày 16/03/2007, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ điều chỉnh biến động trang 04 ngày 08/09/2020 cho ông Lê Minh T1.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông T1 mới trả được cho Ngân hàng số tiền lãi 203.176.811 đồng (Ngày trả lãi cuối cùng là ngày 10/10/2023). Đối với số tiền gốc thì chưa trả được khoản nào.
Tính từ thời điểm ngày 10/10/2023 đến nay ông Lê Minh T1 không thanh toán bất kỳ khoản nợ gốc và lãi nào cho Ngân hàng TMCP Đ và toàn bộ khoản vay đã bị quá hạn toàn bộ gốc và lãi.
Tổng số tiền ông Lê Minh T1 còn nợ Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ theo hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến 20/02/2024 là: 1.952.873.052 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi hai triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn không trăm năm mươi hai đồng), Trong đó: nợ gốc 1.800.000.000 đồng, lãi trong hạn 23.154.696 đồng, lãi quá hạn: 129.718.356 đồng.
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 9 và Khoản 2 Điều 9 – Sự kiện vi phạm (bản Điều khoản và điều kiện vay) đính kèm Hợp đồng tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ký ngày 15/11/2022, ông Lê Minh T1 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng.
Vụ việc Toà án các cấp đã xử lý liên quan đến tài sản bảo đảm của khoản vay của ông Lê Minh T1 tại B2: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự được thụ lý theo văn bản số 13/2023/TLST-HS ngày 20/03/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST ngày 03/04/2023 đối với bị cáo Lê Duy L (tên gọi khác là Lê Như L1; sinh năm 1986 tại Đ).
- - Ngày 04/05/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã có Bản án sơ thẩm số 15/2023/HS-ST, trong đó phần về trách nhiệm dân sự có tuyên có nêu nội dung.
- + Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị cáo Lê Duy L và anh Lê Minh T1, được Văn phòng C2 công chứng số 004775 ngày 28/08/2020 là vô hiệu.
- + Tách việc giải quyết đối với giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất giữa anh Lê Minh T1 với Ngân hàng B2 liên quan đến diện tích đất 7.884 m2, tọa lạc tại xã T, thành phố Đ đã được cấp GCN QSDĐ số AG 240987, số vào sổ H 02778/QSDĐ/975/QĐUB do UBND thị xã Đ cấp ngày 16/03/2007 cho anh Nguyễn Hữu T3 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ điều chỉnh biến động tại trang 4 của giấy chứng nhận sang tên cho anh Lê Minh T1 vào ngày 08/09/2020 ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu do ngân hàng vắng mặt tại phiên toà và không có đơn yêu cầu nên hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã có đơn kháng cáo và đã được Toà án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo bản án số 800/2023/HS-PT ngày 10/10/2023, theo đó Toà án tuyên.
- + Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị cáo Lê Duy L và anh Lê Minh T1, được Văn phòng C2 công chứng số 004775 ngày 28/08/2020 là vô hiệu.
- + Tách việc giải quyết đối với giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất giữa anh Lê Minh T1 với Ngân hàng B2 liên quan đến diện tích đất 7.884 m2, tọa lạc tại xã T, thành phố Đ đã được cấp GCN QSDĐ số AG 240987, số vào sổ H 02778/QSDĐ/975/QĐUB do UBND thị xã Đ cấp ngày 16/03/2007 cho anh Nguyễn Hữu T3 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ điều chỉnh biến động tại trang 4 của giấy chứng nhận sang tên cho anh Lê Minh T1 vào ngày 08/09/2020 ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu do ngân hàng vắng mặt tại phiên toà và không có đơn yêu cầu nên hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Như vậy, theo Bản án phúc thẩm số 800/2023/HS-PT ngày 10/10/2023 của Toà án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh thì tài sản đảm bảo của ông Lê Minh T1 (Quyền sử dụng đất được cấp theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AG 240987, số vào sổ H 02778/QSDĐ/975/QĐUB do UBND thị xã Đ cấp ngày 16/03/2007) tại B2 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 328/2020/14391162/HĐBĐ ngày 18/09/2020 được ký giữa Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B1 với ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Thanh M không còn hiệu lực. Do đó, Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 giữa B2 với ông Lê Minh T1 từ có tài sản đảm bảo thành không có tài sản đảm bảo.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Mai T2 – SN: 1987 là vợ ông T1. Mặc dù bà T2 không phải là người trực tiếp ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng, tuy nhiên bà T2 là người ký hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của ông T1, do đó bà T2 biết rõ khoản vay trên, mặt khác mục đích của ông T1 vay vốn là để kinh doanh mua mủ cao su bán kiếm lợi nhuận phục vụ cho lợi ích của gia đình. Do đó, bà T2 phải có trách nhiệm liên đới trả cho ngân hàng số tiền mà ông T1 còn nợ Ngân hàng.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2024 Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài giải quyết những vấn đề sau;
- - Buộc ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn, phí theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 tạm tính đến ngày 20/02/2024 là: 1.952.873.052đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi hai triệu tám trăm bảy mươi ba ngàn không trăm năm mươi hai đồng), (Trong đó: nợ gốc là 1.800.000.000 đồng, lãi trong hạn 23.154.696 đồng, lãi quá hạn: 129.718.356 đồng) và toàn bộ lãi, lãi quá hạn phát sinh từ ngày 21/02/2024 theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 cho đến khi ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng TMCP Đ.
Tại đơn sửa đổi bổ sung nội dung đơn khởi kiện ngày 12/9/2024 của Ngân hàng, bổ sung nội dung khởi kiện sau;
Trường hợp ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022, yêu cầu Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại, xử lý đối với tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 328/2020/14391162/HĐBĐ ngày 18/09/2020 để thực hiện thanh toán nợ cho Ngân hàng. Nếu việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 vẫn phải trả hết nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa Ngân hàng yêu cầu;
Buộc ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn, phí theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 2.177.853.326₫ (Hai tỷ một trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm năm mươi ba nghìn, ba trăm hai mươi sáu đồng), (Trong đó, nợ gốc là 1.800.000.000 đồng, lãi trong hạn: 23.154.696 đồng, lãi quá hạn: 354.698.630 đồng) và toàn bộ lãi, lãi quá hạn phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 cho đến khi ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ đối với Ngân hàng TMCP Đ.
Trường hợp ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022, yêu cầu Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại, xử lý đối với tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 328/2020/14391162/HĐBĐ ngày 18/09/2020 để thực hiện thanh toán nợ cho Ngân hàng. Nếu việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 vẫn phải trả hết nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa Ngân hàng giao nộp cho Tòa án bảng tính nợ gốc và lãi chi tiết khoản nợ của ông T1 còn nợ Ngân hàng tạm tính đến ngày 30/9/2024.
Bị đơn ông Lê Minh T1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Mai Thanh vắng m trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài:
- - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán tiến hành các thủ tụng tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là đúng, phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận xem xét giải quyết trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :
Sau khi nghiên cứu đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Toà án: Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Trong đó, bị đơn ông Lê Minh T1 hiện đang cư trú tại khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
[1.2] Về thủ tục giải quyết vắng mặt: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, mặc dù Toà án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Minh T1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Mai T2 nhưng ông T1 và bà T2 vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt của ông T1 và bà T2 là đương nhiên từ chối quyền lợi của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T1 và bà T2 theo thủ tục chung.
[2] Xét nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (viết tắt là Ngân hàng).
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện bổ sung ngày 12/9/2024 của Ngân hàng với nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết như sau; Trường hợp ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022, yêu cầu Tòa án tuyên, Ngân hàng TMCP Đ được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại, xử lý đối với tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 328/2020/14391162/HĐBĐ ngày 18/09/2020 để thực hiện thanh toán nợ cho Ngân hàng. Nếu việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 vẫn phải trả hết nợ cho Ngân hàng.
Xét thấy, Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng trình bày nội dung, “Bản án phúc thẩm số 800/2023/HS-PT ngày 10/10/2023 của Toà án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị cáo Lê Duy L và anh Lê Minh T1, được Văn phòng C2 công chứng số 004775 ngày 28/08/2020 là vô hiệu. Theo Bản án thì tài sản đảm bảo của ông Lê Minh T1 (Quyền sử dụng đất được cấp theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AG 240987, số vào sổ H 02778/QSDĐ/975/QĐUB do UBND thị xã Đ cấp ngày 16/03/2007) tại B2 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 328/2020/14391162/HĐBĐ ngày 18/09/2020 được ký giữa Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B1 với ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Thanh M không còn hiệu lực. Do đó, Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 giữa B2 với ông Lê Minh T1 từ có tài sản đảm bảo thành không có tài sản đảm bảo”. Do đó, Ngân hàng khởi kiện không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết phần tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp bất động sản ký kết giữa Ngân hàng với ông T1, bà M.
Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 27/8/2024 phía Ngân hàng cũng không có yêu cầu bổ sung nội dung khởi kiện. Vào ngày 28/8/2024 Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Vào ngày 12/9/2024 Ngân hàng có đơn bổ sung nội dung yêu cầu khởi kiện.
Xét thấy, đơn bổ sung yêu cầu khởi của Ngân hàng nộp cho Tòa án sau thời điểm Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Mặt khác, nội dung bổ sung yêu cầu khởi của Ngân hàng vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Do đó, căn cứ vào khoản 01 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng để xem xét giải quyết trong vụ án, tuy nhiên Ngân hàng có quyền khởi kiện trong vụ án khác khi có yêu cầu để Tòa án xem xét.
[2.2] Xét, khoản vay theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022;
Căn cứ vào Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 có chữ ký của ông Lê Minh T1; Căn cứ vào nội dung ký kết trong hợp đồng. Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định ông T1 đã vay của Ngân hàng số tiền 1.800.000.000 đồng (Một tỷ tám trăm triệu đồng), thời hạn vay 11 tháng (từ ngày 15/11/2022 đến ngày 15/10/2023), mục đích vay là Thu mua mủ cao su, lãi suất vay tại thời điểm nhận nợ là 13,7%/năm cố định trong thời hạn hiệu lực của Hợp đồng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngân hàng và ông T1 ký kết Hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận và bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Việc ông T1 ký kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thì bà Huỳnh Thị Mai T2 là vợ của ông T1 có biết, bà T2 cùng ông T1 ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 328/2020/14391162/HĐBĐ ngày 18/09/2020 với Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay của ông T1. Do đó, căn cứ vào Điều 27 của Bộ luật hôn nhân và gia đình 2014, bà Huỳnh Thị Mai T2 phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông Lê Minh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay của ông T1 đối với Ngân hàng.
Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T1 chỉ trả cho Ngân hàng được số tiền lãi 203.176.811 đồng (Ngày trả lãi cuối cùng là ngày 10/10/2023), đối với số tiền lãi còn nợ lại thì ông T1 không trả. Đối với số tiền gốc thì chưa trả được khoản nào. Đến hạn trả nợ ông T1 không thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất còn lại cho Ngân hàng theo hợp đồng ký kết giữa các bên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, vi phạm thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 phải có trách nhiệm liên đới phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất còn nợ lại cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 30/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm vụ án) với tổng số tiền 2.177.853.326₫ (Hai tỷ một trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm năm mươi ba nghìn, ba trăm hai mươi sáu đồng), trong đó; nợ gốc 1.800.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 23.154.696 đồng, nợ lãi quá hạn 354.698.630đ là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 phải có trách nhiệm liên đới tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết kể từ ngày 01/10/2024 đến khi ông T1, bà T2 trả hết nợ.
Căn cứ vào Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022. Xét thấy, sự thỏa thuận về tiền lãi của các bên là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng không phải chịu án phí và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí. Ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 27 của Bộ luật hôn nhân và gia đình 2014;
Áp dụng các Điều 117, 119, 280, 398, 401, 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 100, 103 và Điều 107 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;
Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tổng số tiền nợ gốc và lãi suất còn nợ theo Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 tính đến ngày 30/9/2024 là 2.177.853.326 đồng (Hai tỷ một trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm năm mươi ba nghìn, ba trăm hai mươi sáu đồng), trong đó; nợ gốc là 1.800.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 23.154.696 đồng, nợ lãi quá hạn 354.698.630 đồng.
Kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 còn phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cấp tín dụng số 01/2022/14391162/HĐTD ngày 15/11/2022 cho đến khi ông T1, bà T2 hoàn thành nghĩa vụ thanh toán. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Mai T2 liên đới phải chịu 75.557.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu, năm trăm năm mươi bảy nghìn đồng)
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001228 ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn ông Lê Minh T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Mai Thanh vắng m tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Hữu B |
Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 63/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
