|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Xứng
Bà Trần Thị Ngọc Trân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Đương – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 21/2023/HNGĐST ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Kim T, sinh ngày 09/8/1999. Địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông WU, CHIA - PAO, sinh ngày 02/9/1991. Địa chỉ: I T, Khóm B, phường T, khu N, thành phố T, Đài Loan.
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông W, CHIA-PAO vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 02/02/2023 và bản tự khai ngày 20/3/2023 bà Võ Kim T trình bày: Vào năm 2017, bà và ông W, CHIA-PAO quen biết qua mai mối, sau khi tìm hiểu có nảy sinh tình cảm, có làm đám cưới theo phong tục tập quán của người Việt Nam, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 25/10/2017.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà T chung sống tại Việt Nam được 02 tuần, sau đó ông WU, CHIA-PAO về Đài Loan làm thủ tục bảo lãnh bà T sang Đài Loan đoàn tụ, bà T ở lại Việt Nam. Năm 2018 và T qua Đài Loan chung sống hạnh phúc cùng ông W, CHIA-PAO đến năm 2021 thì vợ chồng bà T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do lối sống không phù hợp với gia đình chồng, vợ chồng mâu thuẫn nhau về kinh tế, quan điểm sống không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên cải vã, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Đến tháng 3/2022 bà T về Việt Nam, từ đó vợ chồng không còn liên lạc.
Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân giữa bà và ông W, CHIA-PAO không thể duy trì nên bà T yêu cầu ly hôn với ông W, CHIA-PAO.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông WU, CHIA-PAO: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác hợp lệ, ông WU, CHIA - PAO đã nhận được các thông báo của Tòa án nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Kim T theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Võ Kim T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục: Nguyên đơn bà Võ Kim T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông WU, CHIA-PAO vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng. Do vậy căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Kim T và ông W, CHIA-PAO là hôn nhân tự nguyện; ông, bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang ngày 25/10/2017. Do vậy Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của bà Võ Kim T và ông WU, CHIA-PAO là hợp pháp.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Võ Kim T; Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân dẫn đến việc bà T yêu cầu ly hôn theo bà T xác định là do bà T với gia đình ông W1, C - Pao có cách sống không hợp nhau, bà T và ông W, CHIA-PAO phát sinh vì mâu thuẫn về kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cải vã, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ cho ông WU, CHIA-PAO theo thủ tục ủy thác nhưng ông W, CHIA-PAO không có ý kiến trình bày và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án. Từ đó cho thấy ông W, CHIA-PAO không có thiện chí muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với bà T. Xét thấy hôn nhân giữa bà Võ Kim T và ông W, CHIA-PAO đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Kim T đối với ông W, CHIA-PAO. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Kim T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Võ Kim T phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà T đã nộp.
[4]. Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC; Bà Võ Kim T phải chịu phí ủy thác tư pháp 400.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0016411 ngày 20/3/2023 và biên lai thu số 0016592 ngày 29/9/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Kim T được ly hôn với ông W, CHIA-PAO.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Kim T xác định không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Án phí: Bà Võ Kim T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai 0008362 ngày 02/3/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Võ Kim T phải chịu phí ủy thác tư pháp 400.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0016411 ngày 20/3/2023 và biên lai thu số 0016592 ngày 29/9/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Võ Kim T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết. Ông W, CHIA-PAO có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
|
Nơi nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Út Mẫn |
Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn tien - pao
