|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:63/2024/HS-ST Ngày:29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tân
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Lương Thành
+ Ông Từ Văn Ân
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tuấn Huy – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: bà Đỗ Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày tháng năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Mai Văn T - Giới tính: nam. Tên gọi khác: không; Giới tính: nam;
Sinh ngày 30 tháng 10 năm 1990; tại: Đ, Quảng Nam; Hộ khẩu thường trú: khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: khối phố C, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: kỹ sư; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Mai Văn N (sinh năm 1956); Họ và tên mẹ: Lê Thị X (sinh năm 1958); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ tên Phan Thị P (sinh năm 1991) và 02 người con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2023;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 20/01/2024 đến ngày 29/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, Công an xã Đ, thị xã Đ phối hợp với Đội Dân phòng thôn Nhị Dinh 3 tuần tra kiểm soát trên địa bàn, khi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã Đ thì phát hiện Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1990, trú khối phố B, phường Đ, thị xã Đ) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92VA-000.22 chở Mai Văn T ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì phát hiện tại vị trí mặt đường bê tông bên cạnh vị trí dừng xe của T1 và T có 01 túi nilông trong suốt, kích thước (2 x 2,5)cm, được kít ba cạnh, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Mai Văn T thừa nhận gói ni lông trên là của T và chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong túi ni lông là ma tuý đá, T cất giữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Văn T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra xác định: khoảng 16 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92VA-000.22 đi làm về đến đoạn đường gần rừng dừa Bảy mẫu thuộc thành phố H thì gặp B (không rõ lai lịch, là bạn lúc trước làm chung với T), cả hai đứng lại nói chuyện. Trong lúc nói chuyện, B đưa T 01 gói ma tuý đá để sử dụng, T lấy, cất giấu trong người và điều khiển xe về nhà. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, T chở Nguyễn Văn T1 đến quán RELAX ở phường V để uống cà phê. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Tín điều khiển xe mô tô của T chở T về, gần đến nhà thì cả hai rủ nhau lên xã Đ đi tìm quán nhậu. Khi đi lên các quán nhậu đều đóng cửa nên cả hai quay về, khi đến đoạn đường gần nhà nghỉ P1 thuộc thôn N, xã Đ thì bị lực lượng Công an xã Đ dừng xe kiểm tra, T sợ quá nên thả 01 gói ma tuý đá trên tay xuống đường ngay cạnh chỗ T đứng. Sau đó, Công an xã Đ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tiến hành thử nước tiểu đối với Mai Văn T, Nguyễn Văn T1; kết quả: Toán, T1 âm tính với ma túy đá (Methamphetamine).
Căn cứ Kết luận giám định số 226/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,26gam.
Methamphetamine là chất ma túy STT 247, mục IIC, danh mục II ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ về quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã tạm giữ:
- - 01 phong bì số 226/KL-KTHS bên trong chứa mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng (đã niêm phong): chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh: đây là điện thoại của ông Mai Văn N (cha ruột của Mai Văn T), không liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trao trả lại cho ông N.
- - 01 sim số 0914.338.383 của Mai Văn T, không liên quan đến vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trao trả lại cho T.
- - 01 xe mô tô hiệu Halim biển kiểm soát 92VA-000.22 do bà Đỗ Thị T2 (sinh năm 1978, trú khối phố V, phường Đ, thị xã Đ) đứng tên chủ sở hữu, bà T2 cho T mượn xe làm phương tiện đi lại. Bà T2 không biết việc T sử dụng xe để phạm tội. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trao trả xe lại cho bà T2.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Mai Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Mai Văn T với mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
- Về vật chứng: Đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 226/KL-KTHS bên trong chứa mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng (đã niêm phong).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lúc 22 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, tại thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, Mai Văn T đang tàng trữ 0,26gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, tác động tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, là tác nhân gây nên các tệ nạn xã hội khác.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ, có cha là bộ đội tham gia chiến trường Campuchia. Do đó, HĐXX thống nhất áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 BLHS. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên HĐXX áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để có thời gian cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
[3] Về vật chứng: HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HS-ST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Mai Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 20/01/2024).
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 3.1 Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 226/KL-KTHS bên trong chứa mẫu vật và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định, bên ngoài có dấu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng (đã niêm phong).
- (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn theo biên bản giao nhận ngày 04/5/2024).
- Về án phí: Bị cáo Mai Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tân |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
