Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐOAN HÙNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 63/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 11 - 2023

V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG -TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Đại

Ông Nguyễn Tuấn Chiến

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2023/ TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXX-ST ngày 01 tháng 11 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 19/2023/TB-TA ngày 17 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như Q, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Q có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Như Q trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau ngày 13/7/2021 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống hai vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Đến đầu năm 2023 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô xát. Đến giữa năm 2023 thì chị Q đã dọn về nhà mẹ đẻ ở Yên Bái, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

    Về con chung: Chị và anh T không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

    - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

  2. Bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Anh và chị Nguyễn Như Q kết hôn vào ngày 13/7/2021 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Đầu năm 2023 thì vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn, cãi vã, do bất đồng quan điểm, sau đó thì chị Q đã dọn về nhà mẹ đẻ ở Yên Bái một thời gian, anh đã đón chị Q về. Đến tháng 9/2023 thì chị Q đã tiếp tục bỏ về nhà mẹ đẻ của chị, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không còn liên quac với nhau. Đến nay chị Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh. Quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với vợ.

    - Về con chung: Anh và chị Q không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

    - Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

    Do bận công việc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.

  3. Qúa trình giải quyết vụ án các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Bị đơn anh T đã được Tòa án gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng anh T không đến Tòa. Do vậy Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
  4. Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:
    • + Xử: Cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
    • + Về con chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
    • + Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
    • + Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Q tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Như Q và bị đơn là anh Nguyễn Văn T đều có nơi cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị Q đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt chị Q. Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn T.
  2. Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Như Q và anh Nguyễn Văn T là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 13/7/2021 trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Theo chị Q thì quá trình chung sống hai vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Đến đầu năm 2023 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô xát. Đến giữa năm 2023 thì chị Q đã dọn về nhà mẹ đẻ ở Yên Bái, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T. Theo anh T thì đầu năm 2023, vợ chồng anh có sảy ra mâu thuẫn, cãi vã, do bất đồng quan điểm, sau đó thì chị Q đã dọn về nhà mẹ đẻ ở Yên Bái một thời gian, anh đã đón chị Q về. Đến tháng 9/2023 thì chị Q đã tiếp tục bỏ về nhà mẹ đẻ của chị, vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, vợ chồng không còn liên quac với nhau. Đến nay chị Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh. Quan điểm của anh là không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với vợ.

    Qua xác minh được chính quyền địa phương cung cấp: Chị Nguyễn Như Q và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13/7/2021 tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, hiện vẫn có hộ khẩu thường trú tại đây. Trong cuộc sống chung vợ chồng chị Q và anh T có mâu thuẫn, đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù anh T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Tuy nhiên trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh T không có biện pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Nay chị Q vẫn kiên quyết xin ly hôn anh T, xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị Q và anh T là mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy cần xử cho chị Q được ly hôn anh T là phù hợp với khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về con chung: Không có, không đề nghị Toà án giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.
  5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Xét thấy việc chị Q tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là phù hợp, nên cần chấp nhận.
  6. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
  7. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.

  1. Xử: Cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Như Q phải chịu 300.000đ. Xác nhận chị Q đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0004496 ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng;
  • - UBND xã Hùng Xuyên;
  • - Lưu HS + VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2023/HNGĐ-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 63/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Như Q ly hôn anh Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger