|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 63/2023/HS-ST Ngày: 28 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Trường
2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/2023/HSST - QĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Trương Tuấn A, sinh ngày 01/01/1981, tại thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Đăng ký thường trú: Số H ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Ông Trương Văn T (chết); Mẹ: Bà Phạm Thị D; Vợ bị cáo Phạm Hồng T1 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh 2004;
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo có mặt tại toà.
Người bị hại: Bà Lâm Đài T2, sinh năm: 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Số H, đường H, khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Tín B, sinh năm: 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm: 1988 (có mặt)
- Bà Lê Thị N, sinh năm: 1980 (vắng mặt)
- Ông Trần Văn M, sinh năm: 1971 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm: 1970 (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn T3, sinh năm: 1978 (có mặt)
- Bà Lê Thị Kiều P, sinh năm: 1981 (có mặt)
- Ông Trương Văn H, sinh năm: 1995 (vắng mặt)
- Ông Trương Văn Â, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Ú, sinh năm: 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 21/5/2023, Nguyễn Thanh Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 95A-026.98, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER chở bà Lê Thị N, Trần Văn M và Nguyễn Hữu C đến thành phố Cần Thơ để ăn uống nhưng trên đường đi N tìm gặp Phạm Văn T3 trên đường đi làm về trước cổng khu công nghiệp S thuộc ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang thì giữa N và T3 nói chuyện liên quan đến việc N yêu cầu T3 trả lại số tiền 150.000.000 đồng tiền nạp tài đám cưới của con ruột To tên Phạm Thị Kiều L với ông WANG JIAHUA vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5/2023 do L đã bỏ về Việt Nam. To điện thoại cho vợ là Lê Thị Kiều P nói bị nhóm của N gặp nói chuyện thì P điện thoại cho Trương Tuấn A đến cổng khu công nghiệp S chở T3 về. Lúc này, Tuấn A đang uống cà phê trước cổng khu công nghiệp S cùng với Trương Văn H và Trương Hoài Â1 cùng nơi thường trú: ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng là cháu ruột Tuấn A. Nghe P nói vậy Tuấn A chạy xe mô tô chở H đến nơi T3 đang nói chuyện, Â1 cũng chạy xe mô tô đến. Trong quá trình nói chuyện thì giữa T3, N và C xảy ra cự cải lớn tiếng và có lời lẽ thô lục, Tuấn A chạy đến chỗ xe bán nước giải khát của bà Nguyễn Thị Ú1 cặp cổng khu công nghiệp S lấy ống típ sắt dài khoảng 50cm, chạy đến đập 01 cái vào kính chắn gió phía sau làm cho kính bị vỡ hoàn toàn và gõ 02 cái vào phía sau thùng xe làm bị móp, trầy và xước. Tuấn A tiếp tục cầm ống típ đập 01 cái vào kính chắn gió bên phải (phía tài xế) cửa sau và gõ 01 cái vào cánh cửa bên phải làm trầy xước xe ô tô biển kiểm soát 95A-026.98 đang đậu tại Quốc lộ N. Sau khi đập xe xong Tuấn A bỏ ống típ lại hiện trường và cùng H, Â1 rời khỏi hiện trường. Sau đó, Tuấn A bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 16/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt Tuấn A theo quyết định truy nã số 03 ngày 09/8/2023 tại phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra, Trương Tuấn A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Tuấn A đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại cho Tuấn A.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: tổng tài sản bị hư hỏng gồm: 01 kín chắn gió phía sau trị giá 8.447.000 đồng; phim cách nhiệt kính lưng xe ô tô trị giá 1.687.000 đồng; S lại vết xước 48 cm tại cánh cửa sau bên phải 972.000 đồng; Đánh bóng và xóa vết trầy có kích thước (2,5x2,5cm) tại kính cửa sau bên phải 1.239.000 đồng; Xử lý vết xước có kích thước (10x0,5cm), phía trên đèn tín hiệu sau bên trái và vết móp có kích thước (01x01cm) phía dưới của biển kiểm soát sau bên trái 1.723.000 đồng; tiền công 3.353.000 đồng. Tổng giá trị bị thiệt hại là 17.421.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS-HCT ngày 19/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Trương Tuấn A về Tội cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại Tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Tuấn A từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 16/9/2023. Bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 17.421.000 đồng, con của Trương Tuấn A là Trương Tín B đã bồi thường xong số tiền như bị hại yêu cầu. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng là Trương Tín B, Lê Thị N, Trần Văn M, Nguyễn Hữu C, Trương Văn H, Trương Văn Â, Lê Thị Ú đều vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến và tại phiên tòa bị cáo cũng không có khiếu nại hay ý kiến gì.
- Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã quy kết, lời thừa nhận đó là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người những người tham gia tố tụng trong vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Vào khoảng 17 giờ ngày 21/5/2023, bị cáo Trương Tuấn A chạy đến chỗ bán nước giải khát của bà Nguyễn Thị Ú1 lấy ống típ sắt dài khoảng 50cm chạy đến đập nhiều cái vào xe ô tô biển kiểm soát 95A-026.98 của Lâm Đài T2 đang đậu tại Quốc lộ N làm vỡ kính chắn gió, thụng móp, trầy xước thân xe, tổng giá trị thiệt hại là 17.421.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là phù hợp.
- Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và làm bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành có khả năng nhận thức pháp luật nhưng do xem thường pháp luật nên có hành vi đập phá làm hư hỏng tài sản của người khác, bất chấp hậu quả. Bị cáo cố tình thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hậu quả là bị cáo đã làm hư hỏng tài sản của Lâm Đài T2 với tổng giá trị thiệt hại là 17.421.000 đồng. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại, phía bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát 95A-026.98, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu sơn: Bạc; số chỗ ngồi: 07, xe đã qua sử dụng và bị hư hỏng. Ngày 05/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bà Lâm Đài T2 là người quản lý hợp pháp, nên không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 ống típ sắt dài 50cm không thu hồi được, bà Nguyễn Thị Ú1 không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 17.421.000 đồng, Trương Tín B là con bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại nên không đề cập giải quyết.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Tuấn A phạm Tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trương Tuấn A 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 16/9/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường xong nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị hại nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Hoài Ân |
Bản án số 63/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG về tội cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 63/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội
