Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 63/2024/HS-ST

Ngày 28-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Đoan;

Ông Đoàn Văn Nam.

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng L, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng V (đã chết) và bà Phạm Thị D, sinh năm 1955; có vợ là Vũ Thị T, sinh năm 1988 và 04 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 29 tháng 3 năm 2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Trọng Đ, bà Phạm Thị D, chị Bùi Thị Tuyết N, anh Nguyễn Bá K; đều vắng mặt. Chị Nguyễn Thị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn về việc tranh chấp diện tích đất của bố mẹ để lại ở thôn B, xã N, huyện T giữa gia đình bà Nguyễn Thị V1 và cháu ruột là anh Nguyễn Trọng Đ nên khoảng 08 giờ ngày 23-10-2023, bà V1 cùng em gái là Nguyễn Thị Q đến mảnh đất trên thấy gia đình anh Đ đang xây dựng tường bao quanh mảnh đất nên đã ngăn cản không cho xây dựng vì diện tích đất đang tranh chấp chưa được giải quyết. Thấy vậy, chị Bùi Thị Tuyết N (vợ Đ) đã gọi điện cho Nguyễn Trọng L (em trai Đ) thông báo sự việc trên. Khi L đến đã cùng chị N, anh Đ chửi bới bà V1, bà Q và hai bên có xảy ra xô xát làm bà Q bị thương ở sườn bên trái. Sau khi được mọi người can ngăn L bỏ về, bà V1 và bà Q đến UBND xã N trình báo sự việc.

Khoảng 01 giờ sau bà V1 gọi cho các con là Nguyễn Thị S và Nguyễn Bá K đến để tiếp tục giải quyết mâu thuẫn với nhà anh Đ. Khi bà V1, bà Q, chị S, anh K đến mảnh đất tranh chấp gặp anh Đ, chị N và anh Nguyễn Trọng D1, bà Phạm Thị D (em trai và mẹ Đ), hai bên tiếp tục lời qua tiếng lại. Chị N lại gọi điện cho L thông báo về việc này; khi L đến nơi cả hai bên tiếp tục lời qua tiếng lại.

Quá trình xảy ra xô xát, anh Đ cầm 01 thanh sắt vụt chị S; anh K lấy 01 điếu cày bằng gỗ màu vàng hình trụ dài 60cm, đường kính 06cm tại quán nhà anh Nguyễn Văn S1 định đánh anh Đ thì được anh D1 can ngăn, giằng điếu cày vứt xuống đất tại khu vực lối cổng vào. L nhặt và cầm điều cày trên bằng tay phải vụt 01 nhát vào cẳng tay trái khiến bà V1 bị thương thì được mọi người can ngăn nên L đã vất điếu cày đi. Cả hai bên di chuyển ra khu vực ngoài cổng nhưng vẫn tiếp tục lời qua tiếng lại, trong quá trình đó anh K nhặt viên gạch ném về phía L nhưng trúng vào trán anh D1; bà D nhặt gạch ném 01 phát trúng vào bà Q, hai bên tiếp tục chửi bới. Trong lúc này L lao đến dùng tay tát vào mặt làm bà V1 ngã ra đất. Sau đó bà V1, bà Q được đi bệnh viện Bệnh viện K1 cấp cứu.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 861/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 30-11-2023 và Công văn số 35/2024/GĐTH-TTPY ngày 26-02-2024 của Trung tâm P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị V1 tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não gây nên là 02% (Hai phần trăm) (không có vết thương để lại sẹo). Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy thân xương trụ trái gây nên là 08% (T1 phần trăm). Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do 03 sẹo phẫu thuật cẳng tay trái gây nên là: 01% (Một phần trăm), 01 % (Một phần trăm) và 02% (Hai phần trăm). Nếu tách tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não là 02% thì thương tích của bà Nguyễn Thị V1 còn lại là 11,63% và làm tròn số thành 12% (Mười hai phần trăm). Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do vật tày tác động tương hỗ trực tiếp gây nên và nếu không được cấp cứu kịp thời thì cũng không dẫn đến tử vong. Điện cơ ghi nhận có giảm tốc độ dẫn truyền vận động và cảm giác dây thần kinh giữa bên trái (chưa loại trừ do phù nề vùng cẳng tay trái) nên chưa có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Nếu cần sẽ khám giám định bổ sung tổn thương này sau khoảng 02 tuần - 04 tuần”.

2

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 870/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 13-12-2023 của Trung tâm P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Q tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Chấn thương vùng đầu không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy xương sườn 11 bên trái gây nên là 02% (Hai phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương gốc ngón 3 tay trái gây nên là 01% (Một phần trăm). Kết luận khác: Chấn thương đầu, ngực có đặc điểm do vật tày có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên; vết thương gốc ngón 3 bàn tay trái có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật có góc cạnh cứng, có thể tương đối sắc gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu kịp thời thì cũng không dẫn đến tử vong”.

Ngày 27-10-2023, anh Nguyễn Văn S1 giao nộp 01 chiếc điếu cày bằng gỗ màu vàng dài khoảng 60 cm, đường kính 06cm. Ngày 09 và 17-11-2023, chị Bùi Thị Tuyết N giao nộp 01 USB nhãn hiệu TOSHIBA 4GB chứa các tệp tin video.

Kết luận giám định số 888/KL-KTHS ngày 15-12-2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: “02 tập tin video có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 74,9 MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu TOSHIBA 4GB đã qua sử dụng (Ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung. Trích xuất 06 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo”.

Ngày 20-12-2023 và 09-01-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành cho Nguyễn Trọng L, bà Nguyễn Thị V1, anh Nguyễn Bá K, chị Nguyễn Thị S nhận dạng chiếc điếu cày, tất cả đã nhận dạng đúng chiếc điếu cày L sử dụng gây thương tích cho bà V1 ngày 23-10-2023.

Ngày 14 và 18-7-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với chị Nguyễn Thị S, Quyết định trưng cầu giám định bổ sung thương tích đối với bà Nguyễn Thị V1, tuy nhiên cả bà V1 và chị S đều từ chối giám định. Ngày 21-8-2024, bà Nguyễn Thị Q có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không yêu cầu bồi thường thương tích.

Qua xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện anh Nguyễn Trọng D1 thường xuyên đi làm ăn xa, ít khi ở nhà, gia đình không biết anh D1 hiện đang ở đâu, làm gì.

Chị Nguyễn Thị S trình bày: Khi 02 bên lời qua tiếng lại, chị bị anh Đ dùng 01 thanh sắt vụt vào đùi và hông. L là người cầm 01 điếu cày bằng gỗ màu vàng vụt 01 phát trúng vào cẳng tay trái bà V1; bà D và chị N nhặt gạch ném trúng vào người bà V1, bà Q; L dùng tay tát vào mặt làm bà V1 ngã ra đường. Chị không nhìn thấy ai gây thương tích cho bà Q. Do thương tích nhẹ nên chị từ chối giám định thương tích.

Anh Nguyễn Trọng Đ trình bày: Quá trình xô xát, anh dùng 01 thanh gỗ nẹp hình trụ tối màu dài khoảng 50 cm vụt 01 nhát trúng vào hông chị S. L là người dùng điếu cày vụt 01 nhát trúng vào cẳng tay trái làm bà V1 bị thương, sau đó hai bên được mọi người can ngăn nên đã di chuyển ra phía ngoài đường. Khi ra đến

3

ngoài đường bà V1 và anh K nhặt gạch ném về phía L nhưng không trúng; anh K ném trúng vào trán làm anh D1 bị thương ở vùng lông mày bên trái; bà D và chị N nhặt gạch ném bà Q, hai bên tiếp tục chửi nhau thì L tát vào mặt làm bà V1 bị ngã đường, sau đó mọi người can ngăn.

Bà Phạm Thị D và chị Bùi Thị Tuyết N thống nhất trình bày: Chị N gọi L đến với mục đích can ngăn nhà bà V1 cản trở việc xây dựng của nhà mình, khi hai bên xảy ra xô xát bà D và chị N nghe thấy bà V1 hô bị gãy tay nhưng không biết ai làm gãy tay bà V1. Sau đó mọi người can ngăn nên bà V1, bà Q đã di chuyển ra phía ngoài đường và tiếp tục chửi bới, bà D liền nhặt nửa viên gạch đất nung đỏ ném 01 nhát trúng vào người bà Q thì được mọi người can ngăn. Bà D, chị N không hô hào, kích động L hay bất kì ai đánh nhau, không ném gạch vào đầu bà V1.

Về vật chứng: 01 điếu cày bằng gỗ hình trụ màu vàng dài 60cm chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng.

Bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 16-9-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng L về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và trình bày: Khi chị N gọi bị cáo đến chỉ với mục đích để ngăn cản không cho bà V1, bà Q cản trở việc xây dựng của nhà anh Đ. Việc bị cáo dùng điều cày vụt vào tay bà V1 gây thương tích và dùng tay đánh vào vùng mặt làm bà V1 ngã ra đất là do bức xúc với gia đình bà V1 chửi bới, cản trở việc anh Đ xây dựng tài sản. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bà V1 là 180.000.0000 đồng, bà Q là 10.000.000 đồng. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật. Đến nay bị cáo đã bị tạm giam 06 tháng nên rất hối hận, chỉ vì không làm chủ được bản thân nên đã gây thương tích cho cô ruột của mình; bị cáo trân thành xin lỗi hai cô; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, đi làm nuôi 04 con nhỏ.

Bà Nguyễn Thị V1 trình bày: Khi hai bên gia đình chửi bới, xô xát với nhau, bà đã bị bà D và chị N dùng gạch ném trúng đầu bà và bà Q; L đẩy bà ngã xuống đất, sau đó dùng điếu cày vụt làm bà gãy tay trái, tổn thương cơ thể 13%. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bà 180.000.000 đồng; bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác. Việc bà bị thương tích lỗi chính là ở bị cáo nhưng bà cũng có một phần trách nhiệm là đã to tiếng, cản trở việc xây dựng của gia đình anh Đ. Bà đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, đi làm nuôi các con.

Bà Nguyễn Thị Q trình bày: Trong quá trình xô xát giữa hai bên gia đình, bà bị thương tích làm tổn thương cơ thể là 03% nhưng do sức khỏe hiện đã bình

4

thường nên bà không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự; gia đình bị cáo đã thoả thuận bồi thường cho bà 10.000.000 đồng nên bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác; bà cũng thống nhất với bà V1 đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án thấp nhất, cải tạo ngoài xã hội, mong rằng sau này bị cáo sống tốt với các cô.

Kiểm sát viên trình bày luận tội: Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 16-9-2024 truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L mức án từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị cáo, tại Quyết định tạm giam số 41/2024/HSST-QĐTG ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 điếu cày bằng gỗ hình trụ màu vàng dài 60cm đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng L (do Nguyễn Trọng Đ nộp thay): 30.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0007229 ngày 26 tháng 9 năm 2024; 20.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0007230 ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và 20.000.000 đồng theo Uỷ nhiệm chi ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Kho bạc Nhà nước huyện T, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
  2. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành

5

vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và hình phạt:

  1. Lời khai của bị cáo Nguyễn Trọng L tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 23-10-2023 do mâu thuẫn về tranh chấp đất đai ở thôn B, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng giữa gia đình bà Nguyễn Thị V1 và gia đình anh Nguyễn Trọng Đ (cháu ruột bà V1), nên Nguyễn Trọng L (em ruột anh Đ) đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là điếu cày bằng gỗ (hình trụ màu vàng dài 60cm) vụt 01 nhát vào cẳng tay trái của bà V1 và dùng tay đánh vào vùng mặt làm bà V1 ngã ra đất. Hậu quả bà V1 bị tổn thương cơ thể theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm P là 13%.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 (với tình tiết định khung dùng hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

  1. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật.
  2. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, việc xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.
  3. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị V1 là 180.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Q là 10.000.000 đồng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo gây thương tích cho bị hại xuất phát từ mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai (đang được Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng giải quyết) giữa hai gia đình; tại phiên toà bị hại cũng thừa nhận có một phần lỗi; bị cáo có bố đẻ được Ủy ban nhân dân huyện T tặng bằng khen; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án cải tạo ngoài xã hội. Do đó bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

6

  1. Xét căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo gây thương tích cho bị hại xuất phát từ mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai giữa hai gia đình bị cáo, bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; việc bị cáo phạm tội cũng một phần do lỗi của bị hại; bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng; Kiểm sát viên, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị xử bị cáo mức án cải tạo ngoài xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử cho rằng, cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với bị cáo và áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị cáo, tại Quyết định tạm giam số 41/2024/HSST-QĐTG ngày 19-9-2024 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu nào khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.
  2. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thư niêm phong đối tượng giám định (bên trong có 01 USB nhãn hiệu TOSHIBA 4GB chứa 02 tập tin video) là tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; 01 điếu cày bằng gỗ hình trụ màu vàng dài 60cm là công cụ phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
  3. Về vấn đề khác: Trong quá trình xảy ra vụ việc bà Nguyễn Thị Q bị bà Phạm Thị D cầm gạch ném 01 nhát vào tay, ngoài ra còn bị thương tích gãy xương sườn bên trái làm tổn thương cơ thể 03%; chị Nguyễn Thị S bị Nguyễn Trọng Đ cầm gậy vụt vào hông gây thương tích; bà Nguyễn Thị V1 cầm gạch ném về phía Nguyễn Trọng L nhưng không trúng. Tuy nhiên, bà Q có đơn xin không yêu cầu khởi tố; chị S từ chối giám định thương tích nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với bà D, bà V1 và anh Đ. Anh Nguyễn Bá K có hành vi cầm gạch ném vào trán anh Nguyễn Trọng D1, quá trình điều tra anh D1 không có mặt ở địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

7

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội Cố ý gây thương tích.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 21 (Hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 42 (Bốn mươi hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Trọng L ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo Nguyễn Trọng L không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao Nguyễn Trọng L cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

“Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở ý tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.

8

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 36 của Luật xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam, tạm hoãn xuất cảnh đối với Nguyễn Trọng L trong thời gian thử thách.
  2. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị cáo Nguyễn Trọng L, tại Quyết định tạm giam số 41/2024/HSST-QĐTG ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
  3. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) điếu cày bằng gỗ hình trụ màu vàng dài 60cm đã qua sử dụng (có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng L (do Nguyễn Trọng Đ nộp thay): 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0007229 ngày 26 tháng 9 năm 2024; 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0007230 ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng và 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng theo Uỷ nhiệm chi ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Kho bạc Nhà nước huyện T, thành phố Hải Phòng.

  1. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Trọng L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Trọng L, bị hại Nguyễn Thị V1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Q có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PC10, PV06);
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - UBND xã Nam Hưng, huyện Tiên Lãng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng L cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger