Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 17-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Đặng Thị Việt Hoài
  2. Trần Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Hồng Thái, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo: Vũ Văn L, sinh ngày 20/01/1987 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn B và bà Đặng Thị M (Đã chết); vợ: Vũ Thị Thu H (Đã ly hôn), 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Quyết định số 85/QĐ-XPHC ngày 29/11/2012 của Phòng PC47 Công an tỉnh T xử phạt hành chính vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh bằng hình thức phạt tiền. Chấp hành xong tháng 12/2012; Bản án số 72/2013/HSST ngày 13/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng Trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 3/2015, chấp hành xong án phí dân sự tháng 6/2017.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).

* Người chứng kiến:

  1. Anh Dương Ngọc H1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số nhà A, tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  2. Ông Trần Xuân Q, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn L, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/12/2023 Vũ Văn L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER RC màu đen, biển kiểm soát 17B3 – 037.90 từ nhà đến khu vực đường P, tổ F, phường Q, thành phố T gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng, L cho gói ma túy trên vào túi quần bên trái của L đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đến 13 giờ 15 phút cùng ngày khi L đang đi trên đường thuộc thôn G, xã Đ, thành phố T thì bị Tổ công tác của Công an thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Dương Ngọc H1, ông Trần Xuân Q, L đã tự giác lấy từ túi quần bên trái của L đang mặc ra giao nộp cho Tổ công tác 01 gói giấy trắng kim màu trắng bên trong có chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là ma túy của L vừa mua để sử dụng cho bản thân.

Tại kết luận giám định số 1858/KL-KTHS(MT) ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Vũ Văn L gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,2880 gam.

Cáo trạng số 50/CT-VKSTPTB ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với bị cáo Vũ Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1858/KL-KTHS(MT) của Phòng K - Công an tỉnh T. Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER RC, màu đen, biển số 17B3 -037.90 cho anh Vũ Ngọc T. Trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu vàng cho bị cáo L.

Bị cáo Vũ Văn L đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Vũ Văn L nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 21/12/2023, tại khu vực thôn G, xã Đ, thành phố T, Tổ công tác của Công an thành phố T phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,2880 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Vũ Văn L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Nghiện ma tuý là tệ nạn đang được đấu tranh bài trừ ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo đã nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...c) Heroin, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ”. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Vũ Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Vũ Văn L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[6]. Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do bị cáo đã từng bị xét xử về tội phạm ma túy nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

[7]. Về xử lý vật chứng:

[7.1]. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7.2]. Đối một điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu vàng Cơ quan điều tra Công an thành phố T thu giữ của bị cáo L không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại trên.

[7.3]. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER RC, màu đen, biển số 17B3 -037.90 là tài sản hợp pháp của anh T. Anh T không biết bị cáo L mượn xe của anh sử dụng vào việc mua ma túy nên cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả chiếc xe trên cho anh Vũ Ngọc T là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8]. Về nguồn gốc số ma túy, Vũ Văn L khai mua tại khu vực đường P, tổ F, phường Q, thành phố T của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ điều tra, xác minh xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Vũ Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 21/12/2023).

2.2. Phạt bổ sung bị cáo Vũ Văn L 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Vũ Văn L còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1858/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh T.

3.2. Trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu MEIZU màu vàng cho bị cáo Vũ Văn L.

3.3. Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình trả lại một xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER RC, màu đen, biển số 17B3 - 037.90 cho anh Vũ Ngọc T.

(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2024).

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 17/4/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra, Cơ quan THAHS Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger