|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HN&GD-ST
Ngày: 28 - 6 - 2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
- Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Chắc.
Bà Trần Thị Út.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 284/2023/TLST - HN&GĐ ngày 07/12/2023 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 58/2024/QĐST - HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1997.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1998.
Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 07/3/2023 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Vào năm 2019 chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2019 tại Ủy ban nhân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hàn gắn được, chị và anh C đã ly thân từ tháng 6/2022 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không hàn gắn được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trọng N (nam), sinh ngày 27/02/2020, con chung hiện do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do bận công việc nên chị xin vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết vụ án.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên chưa có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị T. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt anh C.
[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn C kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2019 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C là hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian đầu chị T và anh C chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 6/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm không hàn gắn được, chị T anh C đã ly thân từ tháng 6/2022 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh C nhưng chị T xin vắng mặt và anh C vắng mặt. Điều đó cho thấy chị T và anh C không có thiện chí hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Chị T và anh C có 01 con chung tên Nguyễn Trọng N (nam), sinh ngày 27/02/2020 con chung hiện do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy từ trước đến nay con chung do chị T và anh C nuôi dưỡng, khi chị T và anh C ly thân tháng 6/2022 đến nay thì con chung do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung chị T nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị T chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T. Cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Trọng N (nam), sinh ngày 27/02/2020 cho chị Nguyễn Thị Thanh T nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn C chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Nguyễn Văn C không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0009905 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí. Chị T đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T, bị đơn anh Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 63/2024/HN&GD-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 63/2024/HN&GD-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị T yêu cầu ly hôn với anh C