Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Thế

Thẩm phán: Ông Phúc An Hoành

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh, bà Nguyễn Thị Tâm, ông Trần Ngọc Thuỷ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2024/TLST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vàng A L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/6/1989 tại tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Công chức Văn hóa- Xã hội xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: H'Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Là đảng viên Đ, sinh hoạt tại Chi bộ xóm H, thuộc Đảng bộ xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Ngày 19/6/2024, UBKT Huyện ủy M ban hành Quyết định số 115-QĐ/UBKTHU đình chỉ sinh hoạt đảng. Ngày 01/8/2024, UBKT Huyện ủy M ban hành Quyết định số 123-QĐ/UBKT thi hành kỷ luật bằng hình thức Khai trừ đối với Vàng A L; con ông Vàng A C, sinh năm 1951 và bà Sùng Y L1, sinh năm 1960; vợ Giàng Y C1, sinh năm 1989 và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/12/2012, bị Công an phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng. Ngày 02/01/2013, L đã nộp phạt số tiền trên (Biên lai số 0000101).

1

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Vàng A L:

- Bà Trần Thị Kim O – Luật sư, Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T;

- Bà Hoàng Thị Kim H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.

2. Họ và tên: Dương Tiến T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 25/3/1983 tại tỉnh Vĩnh Phúc. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Dương Tiến T1 (đã chết) và bà Dương Thị T2, sinh năm 1947; vợ Nguyễn Thị Minh T3, sinh năm 1986 và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2024;

* Tiền án:

- Bản án số 09/2010/HSST ngày 15/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Dương Tiến T 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 11 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Đánh bạc. Án phí hình sự 200.000 đồng; T đã nộp ngày 31/8/2010.

- Bản án số 181/2012/HSST ngày 21/5/2012, Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Dương Tiến T 32 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 09/2010/HSST ngày 15/6/2010 nêu trên, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù chung của 02 Bản án là 44 tháng tù giam; thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2012. Án phí hình sự 200.000 đồng, đã nộp ngày 10/9/2012.

- Bản án số 04/2016/HSST ngày 24/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Dương Tiến T 07 năm 09 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (áp dụng phạm tội nhiều lần; tái phạm nguy hiểm). Án phí hình sự 200.000 đồng; T đã nộp ngày 19/5/2016. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2021.

* Tiền sự: Không.

* Nhân thân: Ngày 30/9/2012, bị Công an xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Dương Tiến T bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. T chưa nộp phạt (quá trình xác minh Công an xã T không lập biên bản đôn đốc đối với T theo quy định).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

3. Họ và tên: Lại Thế T4 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14/6/1982 tại tỉnh Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lại Đăng T5 (đã chết) và bà Ngô Thị T6, sinh năm 1948; vợ Phạm Thị O1, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

2

Nhân thân: Bản án số 202/2016/HSST ngày 16/8/2016 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Án phí hình sự 200.000 đồng; đã nộp ngày 02/12/2016.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Giàng Y C1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 29/5/2024, khi Vàng A L đang ở nhà tại xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì Dương Tiến T gọi điện thoại từ số 0962.808.xxx của T đến số điện thoại 0382.021.xxx của L hỏi mua 7.000.000 đồng ma túy H1 (L và T quen biết nhau từ trước), L nhất trí bán và bảo với T khi nào lên gần đến nhà thì gọi điện cho L. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 28M1-15192 của gia đình mình đi đến khu vực biên giới Việt Nam - Lào, tại đây Lau mua của người đàn ông người Lào (không biết tên, địa chỉ) 01 gói ma tuý Heroine, được gói bằng nilon màu trắng với số tiền là 4.000.000 đồng; L cất gói ma tuý vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi về đến nhà, L mở gói ma tuý Heroine vừa mua được lấy một ít tự sử dụng, rồi tiếp tục sẻ ra một phần và gói lại, cất giấu tại nhà mình để sử dụng dần, sau đó Lau gói phần ma tuý H1 còn lại và cất vào túi quần đang mặc trên người để bán cho T. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại báo cho L là đã đi đến gần khu vực nhà L, thấy thế L bảo với T đi ra khu vực gần cổng Chợ P, thuộc xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình đợi. T đi ra điểm hẹn được một lúc thì L đến, tại đây T đã đưa cho L số tiền 7.000.000 đồng như thoả thuận (gồm nhiều tờ tiền có mệnh giá khác nhau), L cầm tiền rồi lấy trong túi quần ra gói ma tuý Heroine đưa cho T rồi đi về. Sau đó, L đã sử dụng hết số ma túy Heroine cất giấu tại nhà mình.

Sau khi mua được ma tuý Heroine của L, T đi về nhà. Khoảng 20 giờ ngày 30/5/2024, khi T đang ở nhà thì Lại Thế T4, sinh năm 1982 (trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang) gọi điện thoại từ số 0983.502.xxx đến số điện thoại 0962.808.xxx của T nói vừa đi xe ô tô khách đến khu vực chân Cầu vượt cao tốc N - Lào Cai thuộc địa phận xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc và hỏi mua 300.000 đồng ma túy Heroine của T về sử dụng (T với T4 quen biết nhau từ trước); T đồng ý bán và bảo T4 đứng đợi T tại đấy. Sau đó, T đi vào nhà lấy 01 gói nhỏ ma túy Heroine được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ màu đen để trong túi quần dài treo trong tủ ở phòng ngủ (gói ma tuý Heroine này được sẻ ra từ gói ma tuý mua của Lau ngày 29/5/2024), Thuỷ cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay phải và điều khiển xe mô tô đi ra chỗ hẹn gặp T4; đến nơi T đưa cho T4 gói ma tuý Heroine và T4 đưa cho T số

3

tiền 300.000 đồng như thoả thuận (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), rồi T và T4 cùng đi về. Khi về đến nhà T4 lấy ra một ít ma tuý trong gói ma tuý Heroine vừa mua được của T để sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể; số ma túy Heroine còn lại T4 tiếp tục gói lại và cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, T4 đang đi bộ tại khu vực đường bê tông thuộc thôn Đ, xã T, huyện Y thì gặp Tổ công tác của Công an huyện Y đang làm nhiệm vụ, do nghi ngờ T4 liên quan đến ma túy nên yêu cầu T4 đứng lại kiểm tra và T4 đã tự nguyện lấy gói ma túy Heroine đang cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc trên người ra giao nộp. Tổ công tác tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong gói ma túy của T4.

Căn cứ lời khai của Lại Thế T4, ngày 06/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã triệu tập Dương Tiến T đến làm việc; ngày 07/6/2024, T đã tự nguyện đến và khai nhận số ma túy H1 bán cho T4 ngày 30/5/2024 là do T mua của Vàng A L tại Khu vực Chợ P, huyện M, tỉnh Hòa Bình vào ngày 29/5/2024. Trong đó, T bán cho T4 một phần nhỏ, phần ma túy Heroine còn lại T đã sử dụng hết. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà T, không thu giữ được vật chứng liên quan đến vụ án.

Khoảng 15 giờ ngày 07/6/2024, do không còn ma túy Heroine để sử dụng, L tiếp tục một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm số 28M1-151.92 đi từ nhà đến khu vực giáp biên giới Việt Nam - Lào (thuộc địa phận huyện V, tỉnh Sơn La), mục đích tìm mua ma túy Heroine về sử dụng. Tại đây L gặp một người đàn ông người Lào, khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ), nhìn giống người nghiện ma túy, nên L đã hỏi và mua của người đàn ông này 01 bánh ma túy Heroine với số tiền là 110.000.000 đồng. Sau khi mua được bánh ma túy Heroine, L điều khiển xe mô tô đi về, khi đi đến khu vực xóm V, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình thì trời mưa to nên L rẽ vào một Quán bán nước ven đường để trú mưa và bị Tổ công tác của Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang phát hiện bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và lập Biên bản thu giữ 01 bánh ma túy Heroine mà L vừa mua. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà L, không thu giữ được vật chứng liên quan đến vụ án.

Ngoài ra, tạm giữ đồ vật, tài liệu của Lại Thế T4, Dương Tiến TVàng A L, gồm:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI: 352259/02/888430/8, trong máy có lắp 01 (Một) sim viettel. Máy cũ đã qua sử dụng của Lại Thế T4;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh, có số sê-ri: HEJFNRBATWEACACI, trong máy có lắp 01 (Một) sim VNSKY. Máy cũ đã qua sử dụng của Dương Tiến T;
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 353482151253617; số IMEI 2: 353482153253615, trong máy có lắp 02 (hai) sim viettel, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ màu vàng mặt sau có ghi chữ iphone có số sê-ri: F4GVJ0R8JC69, trong máy có lắp 01 (Một) sim V, máy cũ đã qua sử dụng và 01 xe máy nhãn hiệu HONDA biển kiểm

4

soát 28M1 – 15192 có số khung: RLHKC4418NY045951; số máy KC34E 5061266, xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng của Vàng A L.

Về xét nghiệm tìm chất ma túy: Trong các ngày 31/5/2024, ngày 07 và 08/6/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Lại Thế Tuân, Dương Tiến TVàng A L, kết quả đều (+) dương tính, có chất ma tuý trong cơ thể. Ngày 05/6/2024 và 17/6/2024, Trưởng Công an huyện Y đã ban hành các Quyết định số 55, 65, 66 xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với T4, TL.

Về kết luận giám định:

- Tại Kết luận giám định số 763/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định của Lại Thế T4 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,252g (Không phẩy hai năm hai gam).

- Tại Kết luận giám định số 804/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định của Vàng A L là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 353,13g (Ba trăm năm mươi ba phẩy mười ba) gam.

Từ nội dung trên, Cáo trạng số 59/CT-VKSTQ-P1 ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Vàng A L về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Dương Tiến T về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lại Thế T4 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lại Thế T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Dương Tiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249; khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 55 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A L 20 (hai mươi) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chng của 02 tội từ 23 (hai mươi ba) năm đến 23 (hai mươi ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 08/6/2024.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lại Thế T4 từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 31/5/2024.

- Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Tiến T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.

5

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng là chất ma túy đã thu giữ được niêm phong theo quy định;

- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI: 352259/02/888430/8, trong máy có lắp 01 (Một) sim V, máy cũ đã qua sử dụng của Lại Thế T4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 353482151253617; số IMEI 2: 353482153253615, trong máy có lắp 02 (hai) sim viettel, máy cũ đã qua sử dụng và ½ giá trị xe máy nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 28M1 15192 có số khung: RLHKC4418NY045951; số máy KC34E 5061266, xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng của Vàng A L.

- Đề nghị trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh, có số sê-ri: HEJFNRBATWEACACI, trong máy có lắp 01 (Một) sim VNSKY, máy cũ đã qua sử dụng cho Dương Tiến T; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ màu vàng mặt sau có ghi chữ iphone có số sê-ri: F4GVJ0R8JC69, trong máy có lắp 01 (Một) sim V, máy cũ đã qua sử dụng và ½ giá trị xe máy nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 28M1 – 15192 có số khung: RLHKC4418NY045951; số máy KC34E 5061266, xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng cho Vàng A L. Nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Truy thu số tiền thu lợi bất chính của Vàng A L 7.000.000 đồng; Dương Tiến T 300.000 đồng.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Vàng A L nhất trí về tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Kết thúc phần tranh tụng, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, các Kết luận giám định về ma tuý cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 29/5/2024 đến ngày 07/6/2024, Vàng A L, sinh năm 1989, trú tại xóm H, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Dương Tiến T, sinh năm 1983, trú tại thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Lại Thế T4, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Y,

6

tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cụ thể như sau:

1.1. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy của Vàng A L

- Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy: Khoảng 18 giờ ngày 29/5/2024, tại khu vực cổng chợ P, thuộc xóm X, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình, L đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine, được gói bằng nilon màu trắng cho Dương Tiến T, với số tiền là 7.000.000 đồng (Lau phải chịu trách nhiệm với khối lượng 0,252 gam ma tuý H1 đã thu giữ của Lại Thế T4).

- Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy: Khoảng 15 giờ ngày 07/6/2024, L một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm số 28M1-151.92 đi từ nhà đi đến khu vực biên giới Việt Nam - Lào (thuộc địa phận huyện V, tỉnh Sơn La), mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, người Lào (không biết tên, địa chỉ) 01 bánh ma túy Heroine, với số tiền là 110.000.000 đồng. L khai mục đích mua ma tuý về sử dụng. Trên đường mua ma tuý về đến khu vực xóm V, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình, thì L bị Tổ công tác của Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang phát hiện bắt giữ và lập biên bản thu giữ bánh ma tuý Heroine. Khối lượng ma túy Heroine thu giữ là 353,13 gam.

1.2. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Dương Tiến T

Khoảng 20 giờ ngày 30/5/2024, tại khu vực gầm cầu vượt C - Lào Cai (thuộc địa phận xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc), T đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine, được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ màu đen, với số tiền là 300.000 đồng cho Lại Thế T4 (T phải chịu trách nhiệm về khối lượng 0,252 gam Heroine đã thu giữ của Lại Thế T4).

1.3. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Lại Thế T4

Hồi 15 giờ ngày 31/5/2024, tại khu vực đường bê tông thuộc thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, T4 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,252 gam ma túy Heroine cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc trên người, nhằm mục đích sử dụng. T4 khai nhận ngày 30/5/2024 tại khu vực gầm cầu vượt cao tốc N - Lào Cai (thuộc địa phận xã T, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc), T4 đã mua 300.000 đồng ma túy Heroine của Dương Tiến T mục đích về sử dụng; T4 đã sử dụng một phần, phần còn lại T7 cất giấu trong người để tiếp tục sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bản thân các bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy của mình nhưng vẫn cố ý phạm tội. Các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, bản thân bị cáo Vàng A L trước khi phạm tội là công chức, đảng viên Đ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện mà có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng lớn. Bị cáo Dương Tiến TLại Thế T4 đã bị Toà án kết án về tội phạm ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục có hành vi mua bán,

7

tàng trữ trái phép chất ma túy; tại Bản án số 04/2016/HSST ngày 24/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đã áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo Dương Tiến T, bị cáo chưa được xáo án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm (tình tiết định khung tăng nặng).

Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, sức khỏe của bản thân gia đình các bị cáo mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn của xã hội; làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Hành vi đó đi ngược lại với chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm mất an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, bị cáo L mua ma túy về bán cho những người có nhu cầu và cũng để sử dụng cho bản thân nên khi bị cáo T hỏi mua bị cáo đã bán cho T và khi T4 hỏi mua ma túy của T thì T bán lại cho T4 mục đích để kiếm lời. T4 chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Do đó, xác định bị cáo L giữ vai trò quan trọng nhất, là đầu mối đi mua ma túy và cũng là bị cáo tàng trữ số lượng ma túy lớn nhất. Bị cáo T có nhiều tiền án nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên xác định bị cáo giữ vai trò thứ hai. Bị cáo T4 tàng trữ số lượng 0,252 gam ma túy Heroine nên xác định bị cáo có vai trò thấp nhất.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo. Bị cáo Vàng A L được tặng nhiều Giấy khen trong các năm 2016, 2020, 2021 vì có thành tích xuất sắc về các Phong trào hiến máu từ thiện; công tác của Hội chữ thập đỏ của xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; có bố đẻ là ông Vàng A C được tặng Giấy khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2012. Bị cáo Dương Tiến T đã đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho hai bị cáo.

[4] Về mức án Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Đối với luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Vàng A L, trên cơ sở nội dung tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định cho phù hợp.

8

[7] Về xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Đối với các vật chứng là chất ma túy đã thu giữ được niêm phong theo quy định thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với các vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI: 352259/02/888430/8, trong máy có lắp 01 (Một) sim V, máy cũ đã qua sử dụng của Lại Thế T4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 353482151253617; số IMEI 2: 353482153253615, trong máy có lắp 02 (hai) sim viettel, máy cũ đã qua sử dụng của Vàng A L là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 28M1 – 15192 có số khung: RLHKC4418NY045951; số máy KC34E 5061266, xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng của Vàng A L, là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, nhưng chiếc xe là tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo và vợ là chị Giàng Y C1, nên tịch thu ½ giá trị xe là phần sở hữu của bị cáo là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh, có số sê-ri: HEJFNRBATWEACACI, trong máy có lắp 01 (Một) sim VNSKY, máy cũ đã qua sử dụng cho Dương Tiến T; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ màu vàng mặt sau có ghi chữ iphone có số sê-ri: F4GVJ0R8JC69, trong máy có lắp 01 (Một) sim V, máy cũ đã qua sử dụng của Vàng A L. Là tài sản của các bị cáo, không sử dụng vào hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho các bị cáo. Nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền các bị cáo thu lợi bất chính cần truy thu sung quỹ Nhà nước, cụ thể Vàng A L 7.000.000 đồng; Dương Tiến T 300.000 đồng.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Đối với 02 người đàn ông người Lào mà Vàng A L khai đã bán ma túy Heroine cho bị cáo tại Khu vực biên giới Việt Nam - Lào cho bị cáo ngày 29/5/2024 và ngày 07/6/2024: Do Lau mới gặp 02 người đàn ông này lần đầu, không biết tên, địa chỉ, không biết lai lịch; việc giao dịch mua bán ma tuý trực tiếp, không có người chứng kiến. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không có căn cứ xác định được 02 đối tượng trên, nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Vàng A L, Dương Tiến TLại Thế T4. Ngày 05/6/2024 và ngày 17/6/2024 Trưởng Công an huyện Y đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55, 65, 66 đối với các bị cáo bằng hình thức cảnh cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

9

[10] Các bị cáo Dương Tiến T, Lại Thế T8 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Vàng A L là người dân tộc thiểu số và đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp án phí. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Vàng A L phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Lại Thế T4 phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Dương Tiến T phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1- Căn cứ: Điểm b khoản 4 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vàng A L 19 (mười chín) năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và 03 (ba) năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 22 (hai mươi hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 08/6/2024.

2.2- Căn cứ: Điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Tiến T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.

2.3- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lại Thế T4 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 31/5/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên ngoài mặt trước bì niêm phong ghi chữ "Tang vật vụ Lại Thế Tuân giám định ngày 31/5/2024 " mặt sau, trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Lại Thế T4, thành phần tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.
  • + 01 (Một) hộp niêm phong cát tông màu xanh bên ngoài được dán kín bằng băng dính còn nguyên vẹn, trên các mép dán có phiếu niêm phong, trên các phiếu niêm phong có chữ ký của Vàng A L, thành phần tham gia niêm phong và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

3.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI: 352259/02/888430/8, trong máy có lắp 01 (Một) sim viettel. Máy cũ đã qua sử

10

dụng. Được cho vào bì niêm phong dán kín, trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Lại Thế T4 cùng các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, có số IMEI 1: 353482151253617; số IMEI 2: 353482153253615, trong máy có lắp 02 (hai) sim viettel. Máy cũ đã qua sử dụng. Được cho vào bì niêm phong dán kín, trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Vàng A L cùng các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

+ ½ (một phần hai) giá trị xe máy nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 28M1 – 15192 có số khung: RLHKC4418NY045951; số máy KC34E 5061266, xe không có gương chiếu hậu. Xe cũ đã qua sử dụng.

3.2. Trả lại cho Dương Tiến T 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, vỏ màu xanh, có số sê-ri: HEJFNRBATWEACACI, trong máy có lắp 01 (Một) sim VNSKY. Máy cũ đã qua sử dụng. Được cho vào bì niêm phong dán kín, trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Dương Tiến T cùng các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án

3.3. Trả lại cho Vàng A L 01 (Một) điện thoại di động màn hình cảm ứng vỏ màu vàng mặt sau có ghi chữ iphone có số sê-ri: F4GVJ0R8JC69, trong máy có lắp 01 (Một) sim V. Máy cũ đã qua sử dụng. Được cho vào bì niêm phong dán kín, trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Vàng A L cùng các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án

3.4. Trả lại cho chị Giàng Y C1 ½ (một phần hai) giá trị xe máy nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 28M1 – 15192 có số khung: RLHKC4418NY045951; số máy KC34E 5061266, xe không có gương chiếu hậu. Xe cũ đã qua sử dụng.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 16/9/2024).

3.5. Truy thu của Vàng A L số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng); Dương Tiến T 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) sung quỹ Nhà nước.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Dương Tiến TLại Thế T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn nộp án phí đối với bị cáo Vàng A L

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 và điểm d khoản 1 Điều 367 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024); người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được

11

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh (CQCSĐT + Phòng hồ sơ);
  • - Trại tạm giam Công tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Cac bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Văn phòng TAND tỉnh;
  • - Lưu HS + Toà án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bàn Văn Thế

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vang A L + đp phạm tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger