|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 63/2024/DS-ST Ngày 26-9-2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
—————————
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hải.
- Bà Trịnh Thị Oanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Lường, chức vụ:
Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thùy Nguyên - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án huyện K, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 358/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QÐST-DS ngày 19 tháng 09 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1 (S2).
Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hàng S1 (Công ty S3).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T, chức vụ: Tổng giám đốc
Địa chỉ nhận thông báo: Số B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP S1 (Công ty S3): Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1973 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Số H Đường số H, phường A, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn D1, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Thôn I, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Ông Nguyễn Minh T1 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP S1 (Công ty S3). Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP S1 (Công ty S3) là người đại diện theo uỷ quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) có ý kiến trình bày:
Ngày 17/4/2017, ông D1 có ký với Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông D1. Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể:
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông D1 đã thực hiện các giao dịch với Tổng số tiền là 17.341.180 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông D1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 6.200.000 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- Các khoản phí và / hoặc lãi của kỳ trước.
- Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước.
- Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước.
- Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ.
- Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ.
- Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông D1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), do đó ngày 01/07/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của Ông D1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đồng thời khởi kiện khách hàng.
Tính đến ngày 26/09/2024, Ông D1 còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc: 16.585.320 đồng.
- Lãi quá hạn: 40.650.120 đồng
Dư nợ: 57.235.440 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn, bốn trăm bốn mươi đồng)
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 16,585,320 đồng với lãi suất quá hạn là 3.225%/ tháng (lãi trong hạn 2.15%*150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông D1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông D1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết:
- Buộc ông Đặng Văn D1 phải trả ngay cho Ngân hàng Tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/09/2024 là 57.235.440 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn, bốn trăm bốn mươi đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 16.585.320 đồng.
- Lãi quá hạn: 40.650.120 đồng
- Và ông Đặng Văn D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn ông Đặng Văn D1 (bố mẹ ruột của ông D1 là ông Đặng Văn S và bà Nguyễn Thị Thu H nhận thay và cam kết giao lại) nhưng ông Đặng Văn D1 vẫn vắng mặt không có lý do. Do ông Đặng Văn D1 vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên không có bản tự khai cũng như lời trình bày tại phiên tòa hôm nay. Quá trình làm việc ông Đặng Văn D1 đều vắng mặt nên Tòa án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Đặng Văn D1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 201; Các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2).
Buộc ông Đặng Văn D1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền nợ gốc là 16.585.320 đồng và lãi suất phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S1, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đây là tranh chấp dân sự được quy định tại Khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
Về thẩm quyền: Tại thời điểm Ngân hàng khởi kiện bị đơn ông Đặng Văn D1 có địa chỉ tại: Thôn I, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý và giải quyết vụ án theo Quyết định chuyển vụ án số 1955/2023/QÐST-DS ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Đặng Văn D1 đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng ông Đặng Văn D1 vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đặng Văn D1.
[2] Về nội dung:
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP S1 (Công ty S3) ông Nguyễn Minh T1 yêu cầu ông Đặng Văn D1 phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 26/9/2024 tổng cộng số tiền: 57.235.440 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn, bốn trăm bốn mươi đồng), trong đó: Nợ gốc: 16.585.320 đồng. Lãi quá hạn: 40.650.120 đồng theo mức lãi suất hai bên đã ký tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/04/2017 và ông Đặng Văn D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Hợp đồng tín dụng sử dụng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) và ông Đặng Văn D1 có hình thức và nội dung phù hợp với các điều 401, 402, 405 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông D1 mới thanh toán cho Ngân hàng số tiền 6.200.000 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông D1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Đồng thời, theo Kết luận giám định số 1446/KL-KTHS ngày 12/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ đã kết luận: “Chữ viết mang tên Đặng Văn D1 dưới mục “Chữ ký và họ tên của Chủ thẻ chính” trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Văn D1 trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, là do cùng một người ký và viết ra”. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông D1 trả số tiền nêu trên là có căn cứ và phù hợp với các điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho Ngân hàng trong việc thu hồi nợ. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Đặng Văn D1 phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 26/9/2024 tổng cộng số tiền: 57.235.440 đồng (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn, bốn trăm bốn mươi đồng), trong đó: Nợ gốc: 16.585.320 đồng. Lãi quá hạn: 40.650.120 đồng và ông Đặng Văn D1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho Ngân hàng.
[3] Về chi phí giám định chữ ký:
Trong quá trình giải quyết vụ án do ông Đặng Văn D1 vắng mặt nên Tòa án đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông D1. Tại bản Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận “Chữ viết mang tên Đặng Văn D1 dưới mục “Chữ ký và họ tên của Chủ thẻ chính” trên tài liệu cần giám định kí hiệu Al so với chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Văn D1 trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, là do cùng một người ký và viết ra” nên áp dụng khoản 4 Điều 161 của Bộ luật tố tụng dân sự, buộc ông Đặng Văn D1 phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), số tiền này nguyên đơn đã nộp nên cần buộc bị đơn ông Đặng Văn D1 phải thanh toán lại cho nguyên đơn là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[4] Về án phí:
Ông Đặng Văn D1 phải chịu theo quy định của pháp luật là 2.861.772 đồng, tính tròn 2.862.000 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền 1.198.000 đồng (Một triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh theo biên lai số AA/2023/0016857 ngày 26/5/2023.
[6] Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 201Các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2).
- Buộc ông Đặng Văn D1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền là 57.235.440 đồng (Năm mươi bảy triệu, hai trăm ba mươi lăm ngàn, bốn trăm bốn mươi đồng), trong đó: Nợ gốc: 16.585.320 đồng. Lãi quá hạn: 40.650.120 đồng (lãi tính đến ngày 26/9/2024).
Kể từ ngày tiếp tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/9/2024) ông Đặng Văn D1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất hai bên đã ký tại giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17/4/2017 cho đến khi ông D1 thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí: Buộc ông Đặng Văn D1 phải chịu 2.862.000 đồng (Hai triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền 1.198.000 đồng (Một triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh theo biên lai số AA/2023/0016857 ngày 26/5/2023.
- Về chi phí giám định chữ ký: Buộc ông Đặng Văn D1 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thành Tâm |
Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 63/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
