|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày 26-8-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Máy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Thị Yêm;
Bà Nguyễn Thị Lợi.
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Thế N; sinh ngày 05 tháng 4 năm 1988, tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Thế L và bà: Nguyễn Thị H (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/5/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1972. Nơi thường trú: Thôn A, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nơi tạm trú: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Phú Đ1. Vắng mặt;
- Chị Lò Thị C. Vắng mặt;
- Chị Lò Thị H1. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 28/4/2024, Hà Thế N một mình điều khiển xe mô tô đi đến quán K thuộc thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, do chị Nguyễn Thị Đ làm chủ để chơi. Khi đến nơi, Hà Thế N tự mở cửa đi vào phòng hát số 01 của quán, lúc này trong phòng có 03 người đang cùng ngồi hát, gồm: Nguyễn Phú Đ1, Lò Thị H1 và Lò Thị C. Nguyễn Phú Đ1, Lò Thị H1, Lò Thị C đều không quen biết hay có mâu thuẫn, xích mích gì với Hà Thế N, nhưng do đã uống rượu nên Hà Thế N vẫn tự đi vào phòng số 01 để hát hò, nhảy nhót. Sau đó, Hà Thế N đi tới chỗ chiếc ti vi nhãn hiệu Xiaomi EA Pro 65inch màu đen treo trên tường trong phòng hát, dùng bàn tay trái đặt lên màn hình ti vi và dùng bàn tay phải đấm vào chính giữa làm vỡ màn hình ti vi. Thấy Hà Thế N không làm chủ được bản thân, mọi người trong phòng hát đã đưa Hà Thế N ra ngoài và báo cáo sự việc cho chị Nguyễn Thị Đ biết và chị Nguyễn Thị Đ đã trình báo Công an xã T, huyện V. Sau khi nhận được tin báo, Công an xã T đã đưa Hà Thế N về trụ sở Công an xã T lập biên bản sự việc, thu giữ: 01 (một) chiếc ti vi nhãn hiệu Xiaomi EA Pro 65inch đã qua sử dụng, phần màn hình bị nứt, vỡ.
Ngày 04/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn, yêu cầu định giá tài sản chiếc ti vi nhãn hiệu Xiaomi EA Pro 65inch tính đến thời điểm ngày 28/4/2024.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Tổng giá trị còn lại của tài sản cần định giá đến thời điểm ngày 28/4/2024 là: 6.466.000 (sáu triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
Ngày 22/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn ra lệnh bắt Hà Thế N để tạm giam.
Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 01/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hà Thế N ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo Hà Thế N về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Hà Thế N đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thấy việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Hà Thế N phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 178, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Thế N mức án từ 08 tháng đến 11 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Hà Thế N phải bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại chị Nguyễn Thị Đ 6.466.000 (sáu triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng, bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 (năm triệu) đồng, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho chị Nguyễn Thị Đ 1.466.000 (một triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) ti vi nhãn hiệu Xiaomi EA Pro 65inch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Đ, nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận và xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà bị hại chị Nguyễn Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Hà Thế N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập, có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ ngày 28/4/2024, tại quán K thuộc thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn do chị Nguyễn Thị Đ làm chủ, Hà Thế N do đã uống rượu say, bức xúc nhiều việc, nên đã có hành vi dùng tay đấm vào chiếc ti vi nhãn hiệu Xiaomi EA Pro 65inch, treo trên tường trong phòng hát của quán, làm vỡ màn hình ti vi. Qua định giá, tài sản có trị giá 6.466.000 (sáu triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng. Hành vi của bị cáo Hà Thế N có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Hà Thế N về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận thức được hành vi dùng tay đấm màn hình ti vi là tài sản của người khác bị hư hỏng là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa giáo dục chung. Để có mức án thỏa đáng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng: Không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo không có tài sản gì, gia đình hộ nghèo thể hiện tại kết quả xác minh, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với bị cáo và trách nhiệm bồi thường dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại chị Nguyễn Thị Đ xin vắng mặt. Tại cơ quan điều tra chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản 9.000.000 (chín triệu) đồng. Bị cáo Hà Thế N cũng nhất trí bồi thường và bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 (năm triệu) đồng, còn lại 4.000.000 (bốn triệu) đồng bị cáo viết giấy nợ. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo chỉ đồng ý bồi thường cho bị hại với số tiền 6.466.000 (sáu triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng theo kết luận định giá tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy giá trị tài sản bị thiệt là 6.466.000 (sáu triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng, theo kết luận định giá tài sản là có căn cứ. Nên buộc bị cáo Hà Thế N bồi thường thiệt hại cho bị hại chị Nguyễn Thị Đ số tiền 6.466.000 (sáu triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng, bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 (năm triệu) đồng, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho chị Nguyễn Thị Đ 1.466.000 (một triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
[9] Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc ti vi, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị Đ, nên không xem xét giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Điều 584, Điều 589 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thế N phạm tội: Cố ý làm hư hỏng tài sản.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hà Thế N 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hà Thế N có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Đ 6.466.000 (sáu triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng, bị cáo đã bồi thường được 5.000.000 (năm triệu) đồng. Bị cáo Hà Thế N còn phải bồi thường tiếp cho chị Nguyễn Thị Đ 1.466.000 (một triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, đối với khoản tiền bồi thường trên, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc bị cáo Hà Thế N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Máy |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thế N phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
