|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 63/2024/HS-ST
Ngày 26-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh.
2. Ông Lê Việt Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/HSST-QĐ ngày 25/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn S, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 15/4/1985 tại xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Xóm Đ, thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn X, sinh năm 1949; Con bà: Nguyễn Thị H (đã chết); Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 02 tiền án:
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2015/HSST ngày 31/7/2015, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2017, chưa nộp án phí. Bản án này chưa được xóa án tích.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2019/HSST ngày 24/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2021, đã nộp án phí ngày 11/5/2020. Bản án này chưa được xóa án tích.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2010/HSST ngày 29/7/2010 bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và nộp án phí, đã đương nhiên được xóa án tích theo quy định.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HSST ngày 28/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2022.
Hiện bị cáo đang chấp hành án phạt tù theo Bản án số 20/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, tại Đội 34, Phân trại số C, Trại giam Y, Cục C2, Bộ C3, địa chỉ: Xã H, huyện P, tỉnh Sơn La. Bị cáo được trích xuất về tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 25/7/2024 đến nay để tham dự phiên tòa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Anh Ngô Văn V, sinh năm: 1976; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- Cháu Ngô Thị Thu H1, sinh ngày: 18/8/2006; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Học sinh. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Duy C, sinh năm: 1990, nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 24/7/2022, Nguyễn Duy C, (sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên) cùng với Nguyễn Văn S đến nhà ông Hồ Quang C1 (sinh năm 1962 ở thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, là nhà bố mẹ vợ C) để thăm con của C. Cả hai bắt xe khách từ Hà Nội về đến thành phố T, sau đó đi taxi về thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Khi đi đến đoạn đường gần Trại giam S2-Bộ C3, C và S dừng xe vào quán tạp hóa nhà anh Ngô Văn V, sinh năm 1976 ở khu phố C thị trấn T, huyện Y mua quà cho con của C. Lúc này, nhà anh V có cháu Ngô Thị Thu H1, sinh năm 2006 (là con gái anh V) đang trông bán quán. C đứng trước quán để mua đồ, còn S đi vào bên trong cửa hàng để mua mì tôm. Suốt nhìn thấy trên các thùng hàng có 01 chiếc máy tính laptop, nhãn hiệu HP, màu trắng sữa liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy tính này. Lợi dụng sự sơ hở của cháu H1, S lấy một thùng mì tôm, để chiếc máy tính xuống phía dưới các gói mì rồi đi ra ngoài thanh toán tiền. C cũng thanh toán xong tiền thì cả hai tiếp tục lên taxi đi về nhà ông C1. C nhìn thấy S cầm máy tính vừa lấy trộm được của gia đình anh V nên hỏi S “Anh lấy máy tính ở đâu?”. S nói với C “Lấy ở quán tạp hóa lúc nãy” thì C nói lại “Sao ở gần nhà em anh cũng lấy thế”. Suốt nói lại với C đã lỡ lấy rồi nên C không nói gì nữa. Sau khi về Hà Nội, S mang chiếc máy tính về nhà mình cất giấu, sau đó mang đến một cửa hàng sữa chữa máy tính trên địa bàn quận H, Thành phố Hà Nội bán lấy tiền và tiêu xài cá nhân hết. Suốt không nhớ địa chỉ cụ thể của cửa hàng nên không thu hồi được tài sản.
Ngày 10/10/2023, anh Ngô Văn V đến Công an thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa trình báo sự việc bị mất một chiếc máy tính có đặc điểm nêu trên, đồng thời cung cấp cho cơ quan điều tra 01 đĩa DVD có chứa video do camera của gia đình ghi lại video bị kẻ gian lấy trộm chiếc máy tính. Công an thị trấn T đã báo cáo và chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y giải quyết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, kết luận: 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP, model 15-AC071TU (Core i5, ram 8G, HDD 512G) màu trắng sữa, đã qua sử dụng (mua mới năm 2017) tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị là 2.150.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.
Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP, model 15-AC071TU (Core i5, ram 8G, HDD 512G) màu trắng sữa, đã qua sử dụng, S khai đã bán cho một cửa hàng sửa chữa máy tính không rõ địa chỉ cụ thể ở quận H, thành phố Hà Nội nên không không thu hồi được.
Về phần dân sự: Nguyễn Văn S chưa bồi thường cho gia đình anh Ngô Văn V giá trị tài sản trộm cắp. Gia đình anh Ngô Văn V yêu cầu Suốt phải bồi thường giá trị thiệt hại tài sản theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSYÐ ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, tổng hợp với hình phạt 04 năm tù của Bản án số 20/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án, được trừ đi thời gian đã chấp hành của Bản án số 20/2023/HSST. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2024.
Về vật chứng: Không thu giữ gì. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình anh Ngô Văn V giá trị tài sản trộm cắp là 5.000.000 đồng. Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn S hoàn toàn thừa nhận: Vào ngày 24/7/2022, khi đến mua hàng tại quán tạp hóa nhà anh Ngô Văn V ở khu phố C thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản, Nguyễn Văn S đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu HP, model 15-AC071TU (Core i5, ram 8G, HDD 512G) màu trắng sữa, đã qua sử dụng của gia đình anh V trị giá 2.150.000 đồng (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng. Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp định khung hình phạt là “tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tuy nhiên đã áp dụng là tình tiết định khung hình phạt, nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố là người có công với cách mạng, nên xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy: Bị cáo đã 03 lần bị kết án, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của Bản án số 20/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, mà lại bị xét xử về tội phạm trước khi có bản án này, căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự phải tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án. Thời gian chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
Đối với Bản án số 20/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, bị cáo chấp hành án từ ngày 14/12/2022, tính đến ngày 24/7/2024 bị cáo đã chấp hành được 01 năm 07 tháng 10 ngày tù, được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam trong vụ án này (ngày 25/7/2024).
Bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về vật chứng: Không thu giữ gì.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại giá trị tài sản theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Xét thấy số tiền này lớn hơn giá trị định giá, nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại giá trị tài sản trộm cắp là 5.000.000 đồng.
[8] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về vấn đề khác có liên quan:
Đối với anh Nguyễn Duy C biết bị cáo trộm cắp tài sản, tuy nhiên tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 2.150.000 đồng (thuộc trường hợp ít nghiêm trọng). Bị cáo bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là do bị cáo “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy không khởi tố anh Nguyễn Duy C về tội “Không tố giác tội phạm” theo Điều 390 Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 04 (Bốn) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Được trừ đi thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án số 20/2023/HSST là 01 năm 07 tháng 10 ngày tù. Bị cáo còn phải chấp hành 04 (Bốn) năm 10 (Mười) tháng 20 (Hai mươi) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Ngô Văn V và cháu Ngô Thị Thu H1 giá trị tài sản trộm cắp là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Dung |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử Nguyễn Văn S phạm tội trộm cắp tài sản
