Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 63/2024/DS-ST

Ngày 26 - 7 - 2024

V/v tranh chấp về hợp đồng cầm cố

quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê

quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài

sản và hụi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
  2. Bà Lâm Thị Ngọc Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Tòng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Huy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 443/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXX-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thùy D, sinh năm 1984. (Có mặt)

Địa chỉ: Số A, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Cẩm T, sinh năm 1985; địa chỉ: Số F, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

- Bị đơn:

  1. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1962. (Có mặt)
  2. Chị Ngô Thị Kim N, sinh năm 1991. (Có mặt)
  3. Anh Võ Hồng E, sinh năm 1988. (Có mặt)

Cùng địa chỉ: Số B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Võ Thị Thùy D, sinh năm 1984. (Có mặt)
  2. Chị Võ Thị Thùy L, sinh năm 1987.
  3. Ông Võ Minh Đ, sinh năm 1954.

Cùng địa chỉ: Số A, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện hợp pháp của ông Đ, chị L là: Chị Huỳnh Thị Cẩm T, sinh năm 1985; địa chỉ: Số F, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)

  1. Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số C, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt có đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Đại diện hợp pháp của nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Cẩm T trình bày: Vào ngày 15 tháng 9 năm 2021 (âm lịch) mẹ chị D là bà Võ Thị Mỹ N1 (chết) và chị Võ Thị Thùy D thỏa thuận cố đất của bà Phạm Thị H, anh Võ Hồng E, chị Ngô Thị Kim N diện tích đất là 5.729m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 14 và diện tích 3.079m², thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 24, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ bà Phạm Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giá thỏa thuận cố với số tiền cố đất là 200.000.000 đồng, thời hạn cố đất là 05 năm sẽ chuộc lại đất, có làm hợp đồng cố đất. Số tiền cố đất là của chị Võ Thị Thùy D, còn mẹ chị D chỉ cùng đứng tên người cố đất chung với chị D. Phần đất cố thì bà H, anh Hồng E, chị N thỏa thuận thuê lại canh tác hai thửa đất nêu trên với giá một năm là 35.000.000 đồng/năm, mỗi năm đưa một lần vào đầu vụ Đ1 - X hàng năm, thời hạn thuê đất là 05 năm. Từ khi thuê đến nay thì bà H, anh Hồng E, chị N chỉ trả cho chị D được 01 lần số tiền thuê đất là 35.000.000 đồng rồi ngưng đến nay không trả tiền thuê nữa. Tuy nhiên, đến đầu năm 2023 thì bà H, anh Hồng E, chị N đã lấy phần đất cố chuyển nhượng cho con gái bà H diện tích 3.079m², thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 24, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Do phía bà H, anh Hồng E, chị N vi phạm hợp đồng cố đất nên chị D đã hủy hợp đồng cố đất và trả thửa đất còn lại cho bà H, anh Hồng E, chị N và yêu cầu bà H, anh Hồng E, chị N trả số tiền 200.000.000 đồng tiền cố đất và tiền thuê đất còn nợ 01 năm là 35.000.000 đồng.

- Vào ngày 06/02/2022 âm lịch bà H, anh Hồng E, chị N có vay của chị D số tiền 75.000.000 đồng, không lãi suất, thời hạn vay 01 tháng, không có làm biên nhận nợ, nhưng hết thời hạn vay nêu trên mà bà H, anh Hồng E, chị N không trả và do số tiền này chị D vay của người khác để cho bà H, anh Hồng E, chị N vay lại, nhưng không thực hiện như thỏa thuận. Do đó, chị D yêu cầu tính lãi suất 2,5%/tháng x 14 tháng (Tính từ ngày 06/2/2022 đến 08/03/2023) với số tiền là 26.250.000 đồng, tổng cộng 101.250.000 đồng.

- Vào ngày 24/03/2022 âm lịch bà H, anh Hồng E, chị N có vay chị D số tiền 58.000.000 đồng, không lãi suất, thời hạn vay 01 tuần, không có làm biên nhận nợ, nhưng hết thời hạn vay nêu trên mà bà H, anh Hồng E, chị N không trả và do số tiền này chị D vay của người khác để cho bà H, anh Hồng E, chị N vay lại. Do đó, chị D yêu cầu bà H, anh Hồng E, chị N yêu cầu tính lãi suất 2,5%/tháng x 12 tháng (Tính từ ngày 24/3/2022 đến 08/03/2023) với số tiền là 17.400.000 đồng, tổng cộng 75.400.000 đồng.

- Vào ngày 30/09/2022 âm lịch bà H, anh Hồng E, chị N có vay chị D số tiền vốn là 29.000.000 đồng để đóng nợ hụi thiếu 05 tháng, vay không lãi suất, thời hạn 01 tuần, không làm biên nhận nợ, nhưng hết thời hạn trên mà bà H, anh Hồng E, chị N không trả và do số tiền này chị D cũng vay người khác để cho bà H, anh Hồng E, chị N vay lại. Do đó, chị D yêu cầu tính lãi suất 2,5%/tháng x 6 tháng (Tính từ ngày 30/9/2022 đến 08/03/2023) số tiền 4.350.000 đồng, tổng cộng 33.350.000 đồng.

Tổng số tiền nợ vốn vay là 162.000.000 đồng và tổng số tiền nợ lãi là 48.000.000 đồng, nhưng chị D tự nguyện giảm số tiền lãi 8.000.000 đồng, chỉ yêu cầu tiền lãi là 40.000.000 đồng, tổng cộng là 202.000.000 đồng.

- Tiếp tục bà H, anh Hồng E, chị N có đến nhà chị D vay tiền, chị D nói không có, nhưng do chổ quen biết nên đồng ý hốt 03 dây hụi của chị D để cho bà H, anh Hồng E, chị N mượn, theo thỏa thuận thì đóng hụi chết lại. Ba dây hụi chị D cho bà H, anh Hồng E, chị N mượn, còn nợ lại chị D đóng hụi chết cho chủ hụi như sau: Dây hụi 1.000.000 đồng (01 phần) hụi đã mãn, bà H, anh Hồng E, chị N còn nợ 02 lần hụi chết, với số tiền là 2.000.000 đồng. Dây hụi 3.000.000 đồng (01 phần) hụi đã mãn bà H, anh Hồng E, chị N còn nợ 09 lần hụi chết, với số tiền 27.000.000 đồng. Dây hụi 2.000.000 đồng (01 phần) hụi đã mãn bà H, anh Hồng E, chị N còn nợ 12 lần hụi chết, với số tiền 24.000.000 đồng. Tổng số tiền nợ hụi là 53.000.000 đồng.

Do bà H, anh Hồng E, chị N không trả tiền nên đến tháng 3 năm 2023 dương lịch, chị D có thưa ra Ủy ban nhân dân xã L hòa giải và hai bên đã tự thỏa thuận chốt lại tất cả khoản nợ vay, nợ tiền cố đất, tiền thuê đất và tiền nợ hụi. Các bên đồng ý chốt lại tổng số tiền nợ là 525.000.000 đồng, có làm biên nhận nợ ngày 08/03/2023. Hai bên đã thỏa thuận xong thì chị D đã rút đơn yêu cầu đối với bà H, chị D, anh Hồng E và thực hiện đúng theo biên nhận nợ thì trả được, nên thỏa thuận trả 03 lần cụ thể như sau: Lần 1: Vào ngày 10 của tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6 năm 2023 sẽ trả 2.000.000 đồng. Lần 2: Vào ngày 25 của tháng 3, tháng 4, tháng 5, tháng 6 năm 2023 sẽ trả 3.000.000 đồng. Lần 3: Số tiền còn lại là 505.000.000 đồng sẽ được trả đến hạn cuối là ngày 30/6/2023.

Nếu đã quá thời hạn mà bà H, anh Hồng E, chị N không thực hiện đúng sẽ trả lãi suất mà nhà nước quy định trên tổng số tiền nợ vay và sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nhưng trong thời gian hứa sẽ trả tiền thì bà H, chị N, anh Hồng E chỉ trả 10.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 515.000.000 đồng. Do bà H, chị N, anh Hồng E không thực hiện lời hứa như thỏa thuận, nên sẽ tính lãi suất là 0,84%/tháng x 6 tháng (Tính từ ngày 08/3/2023 đến 08/9/2023) là 25.956.000 đồng. Nay chị D yêu cầu bà H, anh Hồng E, chị N trả tổng số tiền nợ là 540.956.000 đồng.

- Bị đơn bà Phạm Thị H, anh Võ Hồng E, chị Ngô Thị Kim N trình bày:

Vào ngày 15 tháng 9 năm 2021 âm lịch bà H, anh Hồng E, chị N có cố đất cho mẹ chị D là bà Võ Thị Mỹ N1 (chết) và chị Võ Thị Thùy D diện tích đất là 5.729m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 14 và diện tích 3.079m², thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 24, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do hộ bà Phạm Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giá cố đất là 200.000.000 đồng, thời hạn cố đất là 05 năm sẽ chuộc lại đất, có làm hợp đồng cố đất. Đến cuối năm 2023 thì bà H, anh Hồng E, chị N đã chuyển nhượng diện tích 3.079m², thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 24, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho con gái bà H đứng tên. Do chị D yêu cầu hủy hợp đồng cố đất thì bà H, anh Hồng E, chị N đồng ý hủy hợp đồng cố đất và đồng ý trả lại chị Võ Thị Thùy D số tiền 200.000.000 đồng tiền cố đất.

Vào ngày 15/9/2021 âm lịch bà H, anh Hồng E và chị N có thuê lại diện tích đất là 5.729m², thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 14 và diện tích 3.079m², thuộc thửa đất số 04, tờ bản đồ số 24, đất tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp với giá thuê một năm là 35.000.000 đồng/năm, mỗi năm trả tiền vào đầu vụ Đ1 - X, thời hạn thuê đất là 05 năm. Từ khi thuê đến nay thì bà H, anh Hồng E, chị N có trả cho chị D được 02 lần tiền là 60.000.000 đồng, còn nợ lại 10.000.000 đồng và còn nợ lại tiền cố đất 45.000.000 đồng, đất hiện nay do bà H, anh Hồng E, chị N canh tác. Do chị D yêu cầu hủy hợp đồng thuê đất nên bà H, anh Hồng E, chị N đồng ý hủy hợp đồng thuê đất và đồng ý hủy hợp đồng thuê đất, đồng ý trả lại số tiền thuê đất còn nợ số tiền 45.000.000 đồng.

- Vào ngày 06/02/2022 âm lịch bà H, anh Hồng E, chị N có vay của chị D nhiều lần với tổng số tiền vốn là 75.000.000 đồng, lãi suất là 8.000 đồng/ngày/triệu, mục đích vay để mua đồ buôn bán, không có làm biên nhận nợ. Từ khi vay đến nay chỉ đóng lãi hàng tháng, đóng lãi nhiều lần với số tiền 85.150.000 đồng, đóng lãi đến tháng 05/2022 âm lịch thì ngưng đóng lãi đến nay. Khi đóng lãi thì không có làm biên nhận. Nay bà H, anh Em, chị N đồng ý hoàn trả cho chị D số tiền vốn vay là 75.000.000 đồng, không đồng ý trả số tiền lãi.

- Vào ngày 24/03/2022 âm lịch bà H, anh Hồng E, chị N có vay chị D số tiền vốn 58.000.000 đồng, lãi suất 8.000 đồng/ngày/triệu, vay không làm biên nhận nợ. Từ khi vay đến nay chỉ đóng lãi hàng ngày, đóng lãi nhiều lần với số tiền 39.980.000 đồng, đóng lãi đến tháng 05/2022 âm lịch thì ngưng đóng lãi đến nay. Khi đóng lãi thì không có làm biên nhận. Nay bà H, anh Hồng E, chị N đồng ý hoàn trả số tiền vốn vay 58.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi.

- Bà H, anh Hồng E, chị N cho rằng số tiền 29.000.000 đồng nằm trong số tiền lãi của 02 khoản vay trên và tiền đóng hụi chết tổng cộng là 82.000.000 đồng. Chị N đã trả được 53.000.000 đồng, còn nợ tiền lãi là 29.000.000 đồng. Khi bà H, anh Hồng E, chị N trả lãi cho chị D số tiền 53.000.000 đồng thì không có làm giấy tờ, biên nhận với chị D. Nay bà H, anh Hồng E, chị N đồng ý trả số tiền lãi 17.000.000 đồng cho chị D.

Nay bà H, anh Em, chị N thừa nhận còn nợ tổng số tiền vốn vay là 150.000.000 đồng và không đồng ý trả tiền lãi.

- Bà H, anh Hồng E, chị N thừa nhận còn nợ tiền hụi chị D với tổng số tiền là 53.000.000 đồng nhưng đã trả cho chị D được 18.000.000 đồng, còn nợ 35.000.000 đồng. Khi bà H, anh Hồng E, chị N trả số tiền 18.000.000 đồng thì không có làm giấy tờ biên nhận với chị D. Nay bà H, anh Hồng E, chị N đồng ý trả cho chị D số tiền nợ hụi là 35.000.000 đồng.

Nay bà H, anh Hồng E, chị N đồng ý trả tổng các khoản nợ cho chị D là 440.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi. Về biên nhận nợ ngày 08/3/2023, thì bà H, chị N thừa nhận có ký vào biên nhận nợ này, anh Hồng E không có ký vào biên nhận. Do lúc ký tên thì do sắp hết giờ nên bà H, chị N mới ký vào biên bản và không có ai ép buộc, đe dọa, lừa dối, uy hiếp bà H, chị N ký vào biên nhận nợ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ kiên quan anh Lê Thanh T1 trình bày: Số tiền cố đất, thuê đất, số tiền vay, số tiền hụi là của cá nhân chị D; anh T1 không có yêu cầu hay ý kiến gì trong vụ án này.

- Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ kiên quan của ông Đ, chị L là chị T trình bày: Ông Đ là chồng của bà N1, còn chị L là con gái của bà N1. Về số tiền cố đất, thuê đất, số tiền vay và tiền hụi là tiền của cá nhân chị D.

- Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ và tiến hành thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Các đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật.

+ Về nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 309, Điều 471, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là: “Tranh chấp về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hụi”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn là bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N, anh Võ Hồng E có địa chỉ cư trú tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án huyện Lấp Vò thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Thanh T1 có đơn xin vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát huyện Lấp Vò đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lê Thanh T1 đã có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của chị D là chị T và chị D yêu cầu bà H, anh Hồng E, chị N trả tiền cầm cố quyền sử dụng đất còn nợ 200.000.000 đồng, tiền thuê quyền sử dụng đất còn nợ 10.000.000 đồng, tổng cộng 210.000.000 đồng và yêu cầu bà H, chị N trả tiền đóng thay ba dây hụi còn nợ 53.000.000 đồng, tiền vay còn nợ 177.000.000 đồng; R yêu cầu bà H, anh Hồng E, chị N tiền vay còn nợ 100.956.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn nộp Hợp đồng cố đất ngày 15/9/2021 âm lịch và Biên nhận nợ ngày 08/3/2023. Bà H, anh Hồng E, chị N đồng ý trả cho chị D tiền cầm cố quyền sử dụng đất còn nợ 200.000.000 đồng, tiền thuê quyền sử dụng đất còn nợ 10.000.000 đồng, tổng cộng 210.000.000 đồng nhưng xin đến năm 2026 sẽ trả khoản tiền này. Còn tiền vay và tiền hụi thì bà H, anh Hồng E cho rằng là nợ của chị N nên không đồng ý trả. Còn chị N cho rằng còn nợ chị D 203.000.000 đồng tiền vay và tiền hụi, nhưng không có khả năng trả nên không đồng ý trả.

[4]. Xét yêu cầu của của chị D yêu cầu bà H, anh Hồng E, chị N trả tiền cầm cố quyền sử dụng đất còn nợ 200.000.000 đồng và tiền thuê quyền sử dụng đất còn nợ 10.000.000 đồng, tổng cộng 210.000.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của chị D là chị T và chị D cho rằng sau khi cầm cố quyền sử dụng đất thì bà H, anh Hồng E, chị N thuê lại hai thửa đất nêu trên để canh tác với giá 35.000.000 đồng/năm. Khi thuê đất lại canh tác được gần hai năm thì bà H, anh Hồng E, chị N chuyển nhượng thửa 5, tờ bản đồ 24, diện tích 3.079m² cho con bà H nên giữa chị D với bà H, anh Hồng E, chị N phát sinh tranh chấp và thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và làm biên nhận nợ tổng cộng số tiền 525.000.000 đồng gồm tiền cầm cố quyền sử dụng đất, tiền thuê quyền sử dụng đất, tiền vay và nợ hụi. Còn bà H, anh Hồng E, chị N thừa nhận có cầm cố quyền sử dụng đất cho chị D số tiền 200.000.000 đồng và thuê lại canh tác giá 35.000.000 đồng/năm, có trả cho chị D hai lần tiền thuê đất là 60.000.000 đồng, còn nợ lại tiền thuê đất 10.000.000 đồng, tổng cộng là 210.000.000 đồng, do có nợ tiền nhiều người nên có chuyển nhượng thửa 5, tờ bản đồ 24, diện tích 3.079m² lấy tiền trả nợ. Còn nợ tiền cầm cố quyền sử dụng đất số tiền 200.000.000 đồng và nợ lại tiền thuê đất 10.000.000 đồng, tổng cộng là 210.000.000 đồng xin đến hết năm 2026 sẽ trả đủ. Nhưng đại diện hợp pháp của chị D là chị T và chị D không đồng ý theo yêu cầu của bà H, chị N, anh Hồng E. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy theo Hợp đồng cố đất ngày 15/9/2021 âm lịch thì bà H, chị N, anh Hồng E đồng ý cầm cố quyền sử dụng đất cho chị D, bà N1 (Chết) mẹ chị D thửa đất số 16, tờ bản đồ số 14, diện tích 5.729m² và thửa 5, tờ bản đồ 24, diện tích 3.079m², đất do hộ bà H đứng tên quyền sử dụng đất với số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn cố tính từ ngày 15/9/2021 âm lịch đến ngày 15/9/2026 âm lịch. Tuy nhiên, khi cầm cố quyền sử dụng đất thì bà H, chị N, anh Hồng E thỏa thuận thuê lại canh tác và chuyển nhượng thửa 5, tờ bản đồ 24, diện tích 3.079m² cho con bà H là vi phạm hợp đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D yêu cầu bà H, chị N, anh Hồng E trả tiền cầm cố đất quyền sử dụng đất còn nợ 200.000.000 đồng và tiền thuê đất còn nợ 10.000.000 đồng, tổng cộng 210.000.000 đồng.

[5]. Xét yêu cầu của của chị D yêu cầu bà H, chị N trả tiền đóng hụi thay còn nợ 53.000.000 đồng và tiền vay còn nợ 177.000.000 đồng. Tại phiên tòa, chị N cho rằng có mượn hụi của chị D hốt hụi, chị N đóng lại hụi chết, tổng cộng hụi hốt được 53.000.000 đồng, chị N có gửi cho chị D đóng hụi được 18.000.000 đồng, còn nợ lại 35.000.000 đồng, nhưng việc đóng hụi không có làm biên nhận. Còn số tiền vay vốn nhiều lần tổng cộng là 133.000.000 đồng, số tiền còn lại là lãi nhập vào vốn. Số tiền chị D yêu cầu bà H, chị N trả tiền hụi còn nợ 53.000.000 đồng và tiền vay còn nợ 177.000.000 đồng thì chị N không đồng ý. Chị N nợ tổng cộng 04 khoản tiền chỉ có 413.000.000 đồng, số tiền còn lại là nợ lãi. Do chị D có thưa ra Ủy ban nhân dân xã L giải quyết nên thỏa thuận làm Biên nhận nợ ngày 08/3/2023 có chị N và bà H ký tên nợ chị D số tiền 525.000.000 đồng. Nợ tiền vay và nợ hụi là nợ của cá nhân chị N, không liên quan đến bà H nên chị N xin được trả vốn, xin giảm lãi. Còn bà H thì cho rằng nợ tiền vay và nợ hụi là nợ của cá nhân chị N, không liên quan đến bà H nên bà không đồng ý trả. Hội đồng xét xử, xét thấy chị N thừa nhận vốn nhập lãi chỉ xin trả vốn, còn bà H không thừa nhận nợ tiền hụi và vay của chị D, nhưng theo Biên nhận nợ ngày 08/3/2023, thỏa thuận vào ngày 10/3/2023 âm lịch trả mỗi tháng là 5.000.000 đồng, thì chị N, bà H có trả cho chị D được 02 tháng là 10.000.000 đồng, nhưng sau đó không trả nữa là vi phạm hợp đồng. Theo Biên nhận nợ ngày 08/3/2023 thì chị N, bà H có ký nhận nợ chị D 525.000.000 đồng, nhưng chị D yêu cầu trả tổng cộng các khoản là 440.000.000 đồng là có lợi cho các bị đơn nên Hội đồng xét xử buộc chị N, bà H liê trả cho chị D tiền hụi còn nợ 53.000.000 đồng và tiền vay còn nợ 177.000.000 là phù hợp pháp luật.

[6]. Đại diện hợp pháp của chị D và chị D rút yêu cầu bà H, anh Hồng E, chị N trả tiền vay còn nợ 100.956.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ không xem xét.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D nên bà H, anh Hồng E, chị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Do bà H là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật, còn anh Hồng E, chị N phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 309, Điều 471, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1/. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thùy D yêu cầu bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N, anh Võ Hồng E trả tiền cầm cố quyền sử dụng đất 200.000.000 đồng và tiền thuê quyền sử dụng đất còn nợ 10.000.000 đồng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thùy D yêu cầu bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N trả tiền hụi còn nợ là 53.000.000 đồng và tiền vay còn nợ 177.000.000 đồng.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thùy D yêu cầu bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N, anh Võ Hồng E trả tiền vay còn nợ 100.956.000 đồng.

Buộc bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N, anh Võ Hồng E trả cho chị Võ Thị Thùy D tiền cầm cố quyền sử dụng đất 200.000.000 đồng và tiền thuê quyền sử dụng đất còn nợ 10.000.000 đồng, tổng cộng 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng).

Buộc bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N trả cho chị Võ Thị Thùy D tiền hụi còn nợ 53.000.000 đồng và tiền vay còn nợ 177.000.000 đồng, tổng cộng 230.000.000 đồng (Hai trăm ba chục triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2/. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N, anh Võ Hồng E nộp 10.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, do bà Phạm Thị H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên chị Ngô Thị Kim N, anh Võ Hồng E nộp 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Phạm Thị H, chị Ngô Thị Kim N nộp 11.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, do bà Phạm Thị H được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên chị Ngô Thị Kim N nộp 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm chục nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Võ Thị Thùy D được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 12.828.900 đồng theo biên lai thu số 0003408 ngày 22 tháng 12 năm 2023 và lai thu số 0003724 ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

3/. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - THA dân sự huyện;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hụi

  • Số bản án: 63/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị D yêu cầu trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger