Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/DS-ST

Ngày: 26-4-2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Sơn
  2. Ông Lê Văn Hả

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Lâm Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh ngày: 01/01/1961.

Địa chỉ: ấp G, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh ngày 01/01/1978.

Địa chỉ : ấp A, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

(bà N có mặt, Bà T có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2023 và các lời trình bày có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:

Nguyên bà Lê Thị N có tham gia các dây hụi, do bà Trần Thị T làm chủ hụi, trong quá trình tham gia hụi, bà Lê Thị N đã đóng hụi sống cho vợ chồng bà T nhưng đến nay họ không giao tiền hụi cho bà Lê Thị N, cụ thể như sau:

Dây hụi 01: Hụi 02 tháng khui hụi một lần, hụi 5.000.000 đồng, mở ngày 06/05/2022 âm lịch, có 19 phần, bà Lê Thị N tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên “10 Nàng”, bà Lê Thị N đóng hụi sống được 10 lần, tính hụi có lãi thì bà Lê Thị N đóng được số tiền: 5.000.000 đồng x 10 lần x 01 phần = 50.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10/2023 âm lịch bà T bị bể hụi và không khui nữa và trốn khỏi địa phương. Vì vậy bà Lê Thị N yêu cầu bà Trần Thị T có trách nhiệm trả lại bà Lê Thị N số tiền dây hụi này là 50.000.000 đồng. Dây hụi này mãn vào ngày 06/04/2024 âm lịch mới mãn.

Dây hụi 02: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 02/07/2022 âm lịch, có 21 phần, bà Lê Thị N tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên “Cô 10 nàng”, bà Lê Thị N đóng hụi sống được 16 lần, tính hụi có lãi thì bà Lê Thị N đóng được số tiền: 2.000.000 đồng x 16 lần x 01 phần = 32.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10/2023 âm lịch bà T bị bể hụi và không khui nữa và trốn khỏi địa phương. Vì vậy bà Lê Thị N yêu cầu bà Trần Thị T có trách nhiệm trả lại bà Lê Thị N số tiền dây hụi này là 32.000.000 đồng. Dây hụi này mãn vào ngày 02/01/2024 âm lịch mới mãn.

Dây hụi 03: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 02/07/2022 âm lịch, có 21 phần, bà Lê Thị N tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên “Cô 10 nàng”, bà Lê Thị N đóng hụi sống được 16 lần, tính hụi có lãi thì bà Lê Thị N đóng được số tiền: 2.000.000 đồng x 16 lần x 01 phần = 32.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10/2023 âm lịch bà T bị bể hụi và không khui nữa và trốn khỏi địa phương. Vì vậy bà Lê Thị N yêu cầu bà Trần Thị T có trách nhiệm trả lại bà Lê Thị N số tiền dây hụi này là 32.000.000 đồng. Dây hụi này mãn vào ngày 02/01/2024 âm lịch mới mãn.

Dây hai 04: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 19/01/2023 âm lịch, có 19 phần, bà Lê Thị N tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên “Cô 10 nàng”, bà Lê Thị N đóng hụi sống được 10 lần, tính hụi có lãi thì bà Lê Thị N đóng được số tiền: 2.000.000 đồng × 10 lần x 01 phần = 20.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10/2023 âm lịch bà T bị bể hụi và không khui nữa và trốn khỏi địa phương. Vì vậy bà Lê Thị N yêu cầu bà Trần Thị T có trách nhiệm trả lại bà Lê Thị N số tiền dây hụi này là 20.000.000 đồng. Dây hụi này mãn vào ngày 19/06/2024 âm lịch mới mãn.

Dây hụi 05: Hụi tháng 5.000.000 đồng, mở ngày 27/02(trước)/2023 âm lịch, có 15 phần, bà Lê Thị N tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi tên “Cô 10 nàng”, bà Lê Thị N đóng hụi sống được 10 lần, tính hụi có lãi thì bà Lê Thị N đóng được số tiền: 5.000.000 đồng x 10 lần x 01 phần = 50.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 10/2023 âm lịch bà T khui hụi, các hụi viên đóng hụi cho bà T xong thì bà T trốn khỏi địa phương. Vì vậy bà Lê Thị N yêu cầu bà Trần Thị T có trách nhiệm trả lại bà Lê Thị N số tiền dây hụi này là 50.000.000 đồng. Dây hụi này mãn vào ngày 27/03/2024 âm lịch mới mãn.

Tổng cộng số tiền hụi 05 dây hụi bà Trần Thị T còn thiếu bà Lê Thị N là: 50.000.000 đồng + 32.000.000 đồng + 32.000.000 đồng + 20.000.000 đồng + 50.000.000 đồng = 184.000.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu đồng),

Nay bà Lê Thị N yêu cầu tòa án huyện Kế sách tỉnh Sóc Trăng xem xét và giải quyết như sau:

Buộc bà Trần Thị T có trách nhiệm trả lại tổng số tiền hụi còn thiếu là 184.000.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn triệu đồng), bà Lê Thị N không yêu cầu tính lãi suất.

Tại phiên Tòa, bà Lê Thị n có ý kiến xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện với nội dung như sau:

Lê Thị N chỉ yêu cầu bà Trần Thị T trả số tiền hụi còn nợ của dây hụi 01 với số tiền là 50.000.000 đồng, dây hụi 02 với số tiền là 32.000.000 đồng, dây hụi 04 với số tiền là 20.000.000 đồng và dây hụi 05 với số tiền là 50.000.000 đồng, cộng chung là 152.000.000 đồng và có ý kiến đồng ý khấu trừ tiền huê hồng của 04 dây hụi là 7.000.000 đồng, còn lại 145.000.000 đồng thì yêu cầu bà Trần Thị T phải thanh toán cho bà Lê Thị N.

Riêng dây hụi 03 với số tiền hụi 32.000.000 đồng thì bà Lê Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa, nếu sau này có tranh chấp thì sẽ khởi kiện bà Trần Thị T bằng vụ án khác.

Bị đơn là bà Trần Thị T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của Điều 68, 70, 71, 72, 234 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Tại phiên tòa nguyên đơn có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền nợ hụi của 04 dây là 145.000.000 đồng (đã khấu trừ tiền đầu thảo là 7.000.000 đồng), thay vì đơn khởi kiện ban đầu là 05 dây hụi tổng số tiền 184.000.000 đồng. Xét thấy việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 244 BLTTDS nên có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N về việc buộc bà Trần Thị T trả số tiền nợ hụi tổng cộng 04 dây là 145.000.000 đồng. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có cung cấp danh sách hụi viên (bút lục: 04) và các bản tự khai của những người tham gia góp hụi. Qua bản tự khai của các ông bà: Võ Thị Tuyết V, Phạm Thị Kiều T1, Phạm Văn T2 (T), Phạm Kiều T3, Võ Thành V1, Nguyễn Thị Đ, Khưu H cùng ngày 10/4/2024, các ông bà xác nhận có tham gia chơi hụi chung với bà Lê Thị N do bà T1 làm đầu thảo, đồng thời qua đối chiếu với 04 danh sách hụi do bà N giao nộp cho thấy bà N có tham gia góp hụi, thể hiện tên trong danh sách hụi “cô 10 Nàng, 10 Nàng” . Từ đó cho thấy các bên có tham gia góp hụi với nhau là sự thật, đối với bà T1 hiện nay không có mặt tại nơi cư trú, do bà T1 không thông báo cho các hụi viên biết về nơi cư trú mới nên đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về họ, hụi, biêu, phường. Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nên được xem là bà phải biết việc nguyên đơn khởi kiện và bà phải có nghĩa vụ chứng minh, nay bà đã đi khỏi địa phương nên đã tự tước đi quyền chứng minh của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ hụi là 145.000.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên Tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, đồng thời bị đơn không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dấn sự năm 2015.

Mặt khác, việc nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền hụi còn nợ là 145.000.000 đồng (sau khi đã trừ tiền huê hồng 7.000.000 đồng). Xét thấy, việc thay đổi về số tiền hụi của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét số tiền hụi mà bị đơn còn nợ theo sự thay đổi này của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn đã có giao dịch về tài sản dưới hình thức góp hụi với mục đích tương trợ, có hưởng huê hồng và tiền lãi được thực hiện theo quy định của pháp luật là có thật. Bởi lẽ, bị đơn có tổ chức góp hụi và nguyên đơn có tham gia là đúng sự thật, nguyên đơn có cung cấp danh sách hụi viên (bút lục: 04) và các bản tự khai của những người tham gia góp hụi. Qua bản tự khai của các ông bà: Võ Thị Tuyết V, Phạm Thị Kiều T1, Phạm Văn T2 (T), Phạm Kiều T3, Võ Thành V1, Nguyễn Thị Đ, Khưu H cùng ngày 10/4/2024, các ông bà xác nhận có tham gia chơi hụi chung với bà Lê Thị N do bị đơn làm đầu thảo, đồng thời qua đối chiếu với 04 danh sách hụi do nguyên đơn giao nộp cho thấy nguyên đơn có tham gia góp hụi, thể hiện tên trong danh sách hụi “cô 10 Nàng, 10 Nàng”. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn phải thanh toán số tiền góp hụi còn nợ của 04 dây hụi, cộng chung là 145.000.000 đồng là chính đáng và có căn cứ pháp luật để Hội đồng xét xử xem xét.

Nguyên đơn không yêu cầu tính thêm tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện trả tiền hụi. Xét thấy, việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi phát sinh là có lợi cho bị đơn, đây là quyền tự định đoạt của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Cho nên, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[3] Về án phí DSST: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do nguyên đơn thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí DSST cho nguyên đơn.

Bị đơn không phải chịu tiền án phí DSST theo quy định của pháp luật.

[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 92, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244 Bộ luật TTDS năm 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 468 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 18, Điều 23, Điều 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về Họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Q;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị N. Buộc bà Trần Thị T chịu trách nhiệm thanh toán cho bà Lê Thị N số tiền hụi còn nợ của 04 dây hụi với số tiền cộng chung là 145.000.000 đồng (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
  2. Về án phí, chi phí tố tụng:

Lê Thị N thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên xem như xong, không có nộp hay hoàn trả tiền gì.

Trần Thị T phải chịu 7.250.000 đồng (bảy triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

  1. Án xử công khai, bà Lê Thị N và có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án.

Trần Thị T không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

  1. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực để thi hành và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Kế Sách;
  • - Chi cục THADS huyện Kế Sách;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Hải Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 63/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger