Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 63/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 9 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kỳ Việt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quyết Thắng, bà Vì Thị Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Giàng A Mơ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn N; tên gọi khác: Không có; sinh năm 1984 tại huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014084001530; nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H (Đã chết) và bà Tòng Thị H1, sinh năm 1948; bị cáo chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: Ngày 24/5/2023 bị Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 3.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái phép. Trong vụ án này bị cáo bị bắt giam từ ngày 14/5/2024 đến ngày 19/8/2024; bảo lĩnh từ ngày 20/8/2024 đến ngày 04/9/2024; cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/9/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Cộng đồng dân cư bản Huổi Dồm, xã D, huyện S, do ông Lò Văn T – Trưởng bản là người đại diện (Có mặt).

* Người có quyền lợi liên quan: Anh Lò Văn D, sinh năm 1975; nơi cứ trú: Bản H, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/5/2023 Lò Văn N, sinh năm 1984, trú tại bản H, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La bị Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 3.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái phép.

Vào tháng 01/2024, Lò Văn N với ý định để có thêm đất sản xuất nên đã mang theo rìu và dao quắm đến khu vực tiếp giáp đất nương của gia đình với khu vực rừng phòng hộ P thuộc bản H, xã D, huyện S chặt, phát 35 cây gỗ thộc khu rừng phòng hộ Pom Co B.

Ngày 23/3/2024, tổ công tác của Công an xã D phối hợp với Ủy ban nhân dân xã D, Cán bộ H huyện S phụ trách địa bàn, Ban quản lý bản Huổi Dồm trong quá trình kiểm tra rừng đã phát hiện hành vi chặt, phát rừng của Lò Văn N. Quá trình điều tra, xác minh Lò Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi chặt, phá rừng phòng hộ, đồng thời giao nộp vật chứng gồm: 01 con dao quắm và 01 chiếc rìu Lò Văn N sử dụng chặt, phá rừng.

Ngày 30/3/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, H huyện S, UBND xã D, Công an xã D và Ban quản lý bản Huổi Dồm tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Vị trí diện tích rừng bị chặt, phát thuộc lô a, khoảnh 2, Tiểu khu G (theo dữ liệu bản đồ giao đất giao rừng năm 2003) và lô 5, khoảnh 2, Tiểu khu G (theo dữ liệu bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018) thuộc bản Huổi Dồm, chủ rừng là ban Q. Xác định diện tích rừng có cây bị Lò Văn N chặt, phát là 1.155,4 m² gồm 35 cây với tổng khối lượng 3,935 m³ gỗ tròn.

Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 04-2024/KL/GĐCN ngày 13/4/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh S, kết luận:

“1. Xác định vị trí có 35 cây bị chặt phá thuộc tiểu khu, khoảnh, lô, loại rừng, chức năng, trạng thái của rừng, chủ rừng

- Loại rừng, vị trí rừng: Vị trí diện tích rừng có cây bị phát, chặt thuộc lô 9, khoảnh 2, tiểu khu G, xã D, huyện S, tỉnh Sơn La (dữ liệu bản đồ kiểm kê rừng năm 2016 xã D). Theo dữ liệu bản đồ giao đất giao rừng vị trí có cây bị phát, chặt được giao cho Cộng đồng bản Huổi Dồm quản lý, bảo vệ với mục đích phòng hộ và được quy hoạch là rừng sản xuất (theo dữ liệu bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018).

- Trạng thái rừng: Đối chiếu ranh giới khu vực có cây bị phát, chặt đã được xác định bằng máy định vị GPS và số hóa bằng phần mềm GPS với dữ liệu bản đồ theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp huyện S năm 2023 diện tích có cây bị phát, chặt có trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo - TXN.

2. Xác định 35 cây bị phát, chặt với tổng khối lượng 3,935 m³ gỗ tròn thuộc loại gỗ gì? Thuộc nhóm thông thường hay quý hiếm

- 35 cây bị phát, chặt (trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp được ký hiệu từ số 01 đến số 35, có ghi tổng khối lượng 3,935 m³ gỗ tròn) đều là gỗ thông thường; gỗ không nằm trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; gỗ không nằm trong Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ”.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐG ngày 01/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: Tổng giá trị rừng bị chặt phá có diện tích 1.155,4m², thuộc bản H, xã D, huyện S là phòng hộ, trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo –TXN bị thiệt hại là 19.946.000 đồng.

Quá trình điều tra Lò Văn N khai nhận toàn bộ hành vi một mình chặt, phá 1.155,4m² rừng phòng hộ Pom Co Bắc thuộc bản H, xã D, huyện S như đã nêu.

Cáo trạng số 50/CT - VKSSC ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố bị can Lò Văn N về tội Huỷ hoại rừng, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội Huỷ hoại rừng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội Huỷ hoại rừng.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 18 đến 20 tháng cải tạo không giam giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) và khấu trừ thu nhập theo quy định tại khoản 4 Điều 243 và khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho nhà nước số tiền 19.946.000 đồng. Khấu trừ số 2.000.000 đồng anh Lò Văn D (Anh trai bị cáo) tự nguyện giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 17.946.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc rìu và 01 con dao quắm là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Chấp nhận việc cơ quan Điều tra bàn giao số vật chứng gồm 35 khúc, đoạn, hộp gỗ đã bị chặt hạ là vật chứng phát hiện khi khám nghiệm hiện trường cho cộng đồng bản Huổi Dồm quản lý, bởi vật chứng cồng kềnh khó vận chuyển về trung tâm huyện.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và dân sự sơ thẩm là 897.000 đồng.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 24/5/2023 bị Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 3.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái phép. Tháng 01/2024 tiếp tục thực hiện hành vi chặt phá 1.155,4m² rừng phòng hộ Pom Co Bắc thuộc bản H, xã D, huyện S, với mục đích lấy đất trồng ngô, lúa. Nay bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội; đã nhờ anh trai nộp một khoản tiền để bồi thường khắc phục hậu quả; gia đình có hoàn cảnh khó khăn; mục đích chặt phá rừng là để lấy đất canh tác trồng ngô, lúa mà giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

- Nguyên đơn dân sự - Lò Văn T – Trưởng bản Huổi Dồm, xã D là người đại diện có ý kiến: Yêu cầu bị cáo bồi thường cho nhà nước toàn bộ giá trị 1.155,4m² rừng phòng hộ bị chặt phá theo kết quả định giá là 19.946.000 đồng.

- Người có quyền lợi liên quan anh Lò Văn D có ý kiến: Số tiền 2.000.000 đồng anh nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp ngày 01/8/2024 là do tự nguyện để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị cáo (Em trai). Tại phiên toà anh D không yêu cầu bị cáo phải trả lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội theo Cáo trạng truy tố đối với bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận ngày 24/5/2023 bị Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 3.000.000 đồng) về hành vi phá rừng trái phép. Tháng 01/2024 tiếp tục thực hiện hành vi chặt phá 1.155,4m² rừng phòng hộ Pom Co Bắc thuộc bản H, xã D, huyện S, với mục đích lấy đất trồng ngô, lúa. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ (Rìu, dao quắm); bản ảnh hiện trường; kết luận giám định trong lĩnh vực lâm nghiệp cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn N đã phạm vào tội huỷ hoại rừng, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Điều 243 Bộ luật hình sự quy định: Tội huỷ hoại rừng.

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ....

c) Rừng phòng hộ có diện tích từ 3.000 mét vuông (m²) đến dưới 7.000 mét vuông (m²);

g) Diện tích rừng hoặc giá trị lâm sản dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích ma còn vi phạm.

....

4. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.

[4] Xét hành vi chặt, phá trái phép 1.155,4m² rừng phòng hộ của bị tuy diện tích không lớn, giá trị lâm sản bị xâm hại không nhiều. Tuy nhiên do trước bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi phá rừng trái pháp luật nên thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo đối với trật tự quản lý nhà nước về môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác như hạn hán, lũ lụt đối với toàn xã hội. Do đó cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự với mục đích trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Động cơ phạm tội huỷ hoại rừng của bị cáo là để lấy đất rừng trồng ngô, lúa nuôi sống gia đình và bản thân vì quỹ đất sản xuất của hộ gia đình thiếu hụt do tăng nhân khẩu; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai nhận tội; đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại; có bố đẻ là Lò Văn H được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba; được cộng đồng dân cư bản Huổi Dồm có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó được xem xét áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng ngược lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ; động cơ phạm tội đơn giản để lấy đất sản xuất; có khả năng tự cải tạo bản thân. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về khấu trừ thu nhập xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.

[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Xét động cơ phạm tội của bị cáo không vụ lợi về vật chất. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm hại đến tài sản của nhà nước nên theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự; bị cáo phải bồi thường. Cụ thể toàn bộ giá trị 1.155,4m² rừng phòng hộ bị huỷ hoại là 19.946.000 đồng. Tuy nhiên do anh trai bị cáo đã tự nguyện giao nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự số tiền 2.000.000 nên bị cáo phải bồi thường số còn lại là 17.946.000 đồng.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc rìu và 01 con dao quắm bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không còn nhiều giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 35 khúc, đoạn, hộp gỗ bị cáo chặt phá tại hiện trường, do là vật chứng cồng kềnh, khó vận chuyển trên địa hình đồi núi. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện S đã giao số vật chứng nêu trên cho cộng đồng dân cư bản Huổi Dồm, xã D, huyện S quản lý, bảo vệ là phù hợp với thực tiễn.

[10] Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo; nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

    - Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội Huỷ hoại rừng. Xử phạt bị cáo Lò Văn N 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian đã bị tạm giam là 99 ngày (Quy đổi thành 09 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ), bị cáo còn phải thi hành hình phạt còn lại 08 (Tám) tháng 03 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện S, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án của Tòa án.

    - Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

    - Giao bị cáo Lò Văn N cho UBND xã D, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện SUBND xã D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự;

    - Buộc bị cáo bồi thường cho nhà nước số tiền 19.946.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Khấu trừ đi số 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) anh Lò Văn D tự nguyện giao nộp, theo biên lai thu số 0000748 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, thì bị cáo còn phải bồi thường số còn lại là 17.946.000 đồng (Mười bảy triệu chín trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

    - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao quắm và 01 chiếc rìu của bị cáo, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/9/2024 giữa cơ quan Điều tra Công an huyện S và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.

    - Chấp nhận việc cơ quan Điều tra Công an huyện S giao 35 khúc, đoạn, hộp gỗ bị cáo chặt phá tại hiện trường cho cộng đồng dân cư bản Huổi Dồm, xã D, huyện S quản lý.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    - Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 897.000 đồng (Tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

    Báo cho bị cáo; nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/9/2024).

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - Viên kiểm sát (02 bản);
  • - Sở tư pháp;
  • - Công an huyện;
  • - THA hình sự
  • - THA dân sự huyện;
  • - UBND xã Dồm Cang;
  • - Bị cáo; nguyên đơn DS; người có QLLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VPTA.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kỳ Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về huỷ hoại rừng

  • Số bản án: 63/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn N phạm tội Huỷ hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger