Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 63/2023/HSST

Ngày 25 - 8 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP,TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đinh Thu Hương ;
  2. Bà Nguyễn Thị Hoan

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Việt Dũng – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 25/8/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/TLST - HS ngày 01 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST – HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 12/3/1990, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Ngọc T1, con bà: Nguyễn Thị T2; vợ: Tống Thị H, con có 2 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án: có 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2021/HSST ngày 22/6/2021 Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí 200.000 đồng và 300.000 đồng án phí dân sự; bồi thường dân sự 900.000 đồng, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/11/2022, nộp án phí hình sự và dân sự ngày 22/6/2021. Tiền sự: quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 18/01/2021 của Công an xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” bị cáo chưa chấp

hành; nhân thân: tại bản án hình sự sơ thẩm số 178/2010/HSST ngày 13/5/2010 Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 8 tháng 21 ngày tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí 200.000 đồng và 400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo nộp án phí HSST ngày 14/5/2010, nộp án phí dân sự vào ngày 22/11/2010; tại bản án hình sự sơ thẩm số 32/2011/HSST ngày 17/6/2011 của Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tổng hợp với 8 tháng 21 ngày tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 178/2010/HSST ngày 13/5/2010 Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 40 tháng 21 ngày tù và nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, ngày 28/7/2014 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 12/9/2011 nộp án phí; tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2016/HSST ngày 19/4/2016 của Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, ngày 23/11/2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 27/6/2016 nộp án phí. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 6/5/2023 đến ngày 12/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

- Người làm chứng: ông Nguyễn Công B (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau: Nguyễn Ngọc T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, do có nhu cầu về việc sử dụng ma tuý. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 6/5/2023 Toán điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B4 – 380.57 đi từ huyện H, tỉnh Thanh Hóa ra ngõ 11 thuộc tổ B, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây T gặp một người đàn ông tên B1 và mua của người này 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong người đàn ông bỏ đi, T cất gói ma tuý vào trong túi quần sau bên phải đang mặc và đứng cạnh xe mô tô để chuẩn bị đi về thì bị tổ công tác Công an phường N tuần tra đến yêu cầu kiểm tra căn cước công dân đối với T, tại chỗ Toán không xuất trình được căn cước công dân và khai tên tuổi địa chỉ; khi tổ công tác hỏi T có sử dụng ma tuý không thì T khai nhận là người sử dụng ma tuý, đồng thời lấy từ túi quần sau bên phải đang

mặc ra 01 gói nhỏ gói bằng giấy màu trắng bên trong là chất bột dạng cục màu trắng đục, khai nhận là ma tuý loại Heroine vừa mua. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và tiến hành niêm phong gói giấy màu trắng bên trong là chất bột dạng cục màu trắng đục theo quy định của pháp luật. Đồng thời đưa T về trụ sở Công an phường N lập biên bản thu giữ vật chứng và biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngoài ra còn thu giữ của T một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, đã cũ bên trong có lắp 1 sim điện thoại số thuê bao 0328.143.xxx và một chiếc xe mô tô BKS 36B4 – 380.57 và số tiền 210.000 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng đục thu giữ của Nguyễn Ngọc T, có khối lượng 0,18 gam ký hiệu M gửi đi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 369/KLGĐ-KTHS-MT ngày 11/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: mẫu chất bột dạng cục màu trắng đục gửi giám định ký hiệu M, có khối lượng 0,1789 gam, là ma túy, loại Heroien.

Heroine là chất ma túy thuộc danh mục IA, số thứ tự 9 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Sau khi giám định Phòng K Công an tỉnh N đã hoàn lại 0,1178 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 369/KL-KTHS-MT.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 66/CT– VKSTĐ ngày 31/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 22 đến 26 tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 6/5/2023.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi số: 369/KL-KTHS-MT vụ Nguyễn Ngọc T, SN 1987, xảy ra ngày 6/5/2023 tại

phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm M= 0,1178 gam ma tuý loại Heroine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (6,1x5,6)cm;

Đối với số tiền 210.000đồng là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận do có nhu cầu về sử dụng ma tuý, nên ngày 6/5/2023 bị cáo đã mượn xe đi tìm địa điểm bán ma tuý với mục đích mua về để sử dụng cho bản thân, khi vừa mua được gói ma tuý đang cất giấu thì bị Công an phường N, thành phố T kiểm tra hành chính, biết không thể chối cãi, nên bị cáo đã giao nộp gói ma tuý vừa mua được cho cơ quan điều tra.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sau khi phạm tội rất ân hận về việc làm của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm được trở về làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định số: 369/KL- KTHS-MT ngày 11/5/2023 của Phòng K - Công an tỉnh N và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 06/5/2023, tại ngõ A, thuộc tổ B, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Ngọc T có hành vi cất giấu trái phép 0,1789 gam ma tuý, loại Heroine để sử dụng cho bản thân, bị Công an phường N, thành phố T phát hiện bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; xâm phạm đến

trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ được Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,1789 gam ma tuý, loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ....

b,.....

c. Heroine, C, M, A, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Bản Cáo trạng số 66/CT– VKSTĐ ngày 31/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Ngọc T đã bị kết án, chưa được xoá án tích, lần phạm tội này lại do cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, có tiền sự và bị xét xử nhiều lần về các tội danh khác nhau, đã bị xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

[4] Về hình phạt: xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Việc bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản

thân, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn công cộng, đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt khác của đời sống xã hội. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không vì vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông tên B1 đã bán ma tuý cho bị cáo, bản thân bị cáo không biết lai lịch, địa chỉ của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý đối với người đã bán ma tuý cho bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B4 – 380.57 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Anh T3 cho bị cáo mượn xe đi lại, anh T3 không biết bị cáo dùng để đi mua ma tuý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe mô tô trên cho anh T3 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 0,1178 gam chất bột dạng cục màu trắng, là ma túy, loại Heroine được hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong trong 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi số: 369/KL-KTHS-MT vụ Nguyễn Ngọc T, SN 1987, xảy ra ngày 6/5/2023 tại phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm M= 0,1178 gam ma tuý loại Heroine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (6,1x5,6)cm. Đây là những vật chứng chứng minh tội phạm, không còn giá trị sử dụng và là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng trên.

Đối với chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng cùng sim điện thoại là tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị cáo là đúng pháp luật.

Về số tiền 210.000 đồng đã thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[8] Án phí hình sự: bị cáo bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy
  2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Toán 2 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 6/5/2023.
  3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi số: 369/KL-KTHS-MT vụ Nguyễn Ngọc T, SN 1990, xảy ra ngày 06/5/2023 tại phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm M=0,1178 gam, là ma tuý, loại Heroine, cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (6,1x5,6)cm;
    • + Trả lại cho Nguyễn Ngọc T số tiền 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) tiền ngân hàng N. Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2023 và uỷ nhiệm chi lập ngày 01/8/2023 giữ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp.
  4. Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả phiên toà hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình(1)
  • - VKSND thành phố Tam Điệp(1)
  • - Công an thành phố Tam Điệp(1)
  • - Chi cục THA thành phố Tam Điệp (1)
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Ninh Bình(1)
  • - Bị cáo(1);

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2023/HSST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 63/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger