TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2024/HS-ST | |
| Ngày 25/4/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Hùng, bà Lò Thị Quỳnh .
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tòng Thanh Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến với 01 điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Sơn La vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 11/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST-HS ngày 15/4/2024 đối với bị cáo:
Tòng Văn T, sinh ngày 14 tháng 3 năm 1993 tại huyện T, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản B, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn X và bà Tòng Thị T1; bị cáo có vợ đã ly hôn và có 01 con (ở cùng mẹ); tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang ngày 06/01/2024, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024 đến nay. Có mặt.
Người tham gia tố tụng tại điểm cầu thành phần: Bị cáo Tòng Văn T.
Những người tham gia tố tụng khác hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Hoàng V, ông Lò Văn M, cán bộ chiến sỹ Nhà tạm giữ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, tổ công tác Công an xã C phối hợp với Công an phường T, Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La phát hiện, kiểm tra, bắt quả tang Tòng Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong có 02 gói nilon màu trắng, gói thứ nhất chứa 02 viên nén màu hồng, gói thứ hai chứa cục bột màu trắng (T cầm trong lòng bàn tay trái, đưa ra nộp, khai là ma túy H phiến và H1 của T để sử dụng).
Tạm giữ của Tòng Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 vỏ màu xanh, số IMEI 1 có 5 số cuối 58653, số IMEI 2 có 5 số cuối 58646, bên trong lắp sim số thuê bao 0364395784, đã qua sử dụng.
Ngày 07/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định chất ma túy. Kết quả cân tịnh:
Số 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,21 gam; lấy 01 viên khối lượng 0,10 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T1; còn lại 01 viên khối lượng 0,11 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu T2.
Số cục bột màu trắng có tổng khối lượng 0,06 gam; lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu T3; còn lại 0,04 gam làm mẫu lưu kho, ký hiệu T4.
Tại Kết luận giám định số 266/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam.
Mẫu ký hiệu T3 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,02 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,21 gam; loại Methamphetamine và 0,06 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Quá trình điều tra, Tòng Văn T khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 06/01/2024, Tòng Văn T đi bộ từ phòng trọ ở bản H, phường T, thành phố S đến cổng bản Hẹo, đi taxi đến bản M, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng. Thân đi bộ vào trong bản, gặp, hỏi, mua được của một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi 01 gói nilon màu trắng bên trong có 02 gói nilon màu trắng, gói thứ nhất chứa 02 viên hồng phiến, gói thứ hai chứa cục bột H1, với số tiền 300.000 đồng. T cầm gói ma túy trong tay, đi bộ ra chỗ xe taxi đang đợi, bảo lái xe đưa về bản Hẹo. Khi đến khu vực cổng bản Hẹo, T xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đối với người bán ma túy, Tòng Văn T khai không biết họ tên, tuổi và địa chỉ. Ngoài lời khai của Tòng Văn T không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với người lái xe taxi, T không quen biết và người đó không biết việc Tòng Văn T đi taxi đi mua, cất giữ trái phép chất ma túy.
Đối với 01 điện thoại di động được xác định là tài sản của Tòng Văn T, không sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy.
Bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Tòng Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Tòng Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu T2=0,11 gam và T4=0,04 gam.
Trả cho Tòng Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, kèm 01 sim đã qua sử dụng.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về quá trình tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi. Xét lời khai của bị cáo hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra thông tin điện thoại, vật chứng đã thu giữ, biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến. Có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 06/01/2024, Tòng Văn T thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy 0,21 gam Methamphetamine và 0,06 gam Heroine để sử dụng; tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,27 gam. Hành vi của bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Tòng Văn T về tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ được Ban tặng Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam, được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập lao động tự do, không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền.
- [4] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng là chất ma túy và đồ vật liên quan, gồm mẫu lưu ma túy còn lại, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 03 mảnh nilon.
Trả cho Tòng Văn T tài sản bị thu giữ, không sử dụng vào việc phạm tội, gồm: 01 điện thoại di động, kèm 01 sim đã qua sử dụng.
- [5] Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, cư trú tại bản B, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, có đề nghị miễn án phí, được Hội đồng xét xử xét, chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Tòng Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024.
Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do Công an tỉnh S phát hành còn nguyên niêm phong, giấy niêm phong số 086178. Mặt trước phong bì dán giấy ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Tòng Văn T. SN: 1993 - Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 06/01/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 03 mảnh nilon màu trắng; mẫu lưu T2=0,11 gam và T4=0,04 gam”.
Trả cho Tòng Văn T: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A7 vỏ màu xanh, số IMEI 1 có 5 số cuối 58653, số IMEI 2 có 5 số cuối 58646, bên trong lắp sim số thuê bao 0364395784, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn T.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 63/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 63/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn T
