Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HS- ST

Ngày: 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lưu Trọng Kim.

2/ Ông Nguyễn Thanh Bình;

-Thư ký phiên tòa: Trịnh Văn Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh,

tỉnh Bình Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham

gia phiên tòa: Ông Cao Quốc Thuận- Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2024, tại phòng xử án- Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS, ngày 6/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Q, sinh năm 2003, tại: Bình Thuận

Nơi cư trú: Khu phố 9, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần H và bà Nguyễn Thị H1; chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 26/10/2023 bị UBND thị trấn V xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/12/2023 bị UBND thị trấn V xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/01/2024 bị UBND thị trấn V áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại địa phương thời hạn 03 tháng; bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2004, tại: Bình Thuận

Nơi cư trú: Khu phố 9, thị trấn Võ Xu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H2; chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/7/2022 bị kết án 01 năm 06 tháng tù về tội: trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo tại ngoại. Có mặt

-Bị hại: Ông Trần Minh K, sinh năm 1994. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+Ông Trần Trọng T1, sinh năm 1958. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

+Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Những người làm chứng có mặt tại phiên tòa: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 27/2/2024, Trần Minh K, sinh năm 1993 dựng xe mô tô biển số 86B8- 042.18 tại sân nhà số B N, khu phố I, thị trấn V, rồi vào nhà ngủ. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28/2/2024 Trần Q, sinh năm 2003 điều khiển xe mô tô không có biển số của người tên là B, hiện không rõ lai lịch chở Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2004 đi ngang qua nhà số B N, phát hiện xe mô tô của K không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp, để bán lấy tiền tiêu xài. Q và Đ về nhà ăn cơm.

Trong lúc ăn cơm Q gọi điện cho Võ Ngọc Hải H3, sinh năm 2005, ở xã M, hỏi có ai mua xe không. H3 trả lời có. Q chở Đ lên lại nhà số B N. Q dừng xe đứng đợi, Đ xuống xe đi vào lấy trộm xe biển số 86B8- 042.18 rồi nổ máy cùng Q chạy đến nhà của H3 ở xã M Khi đến nhà H3, thì Q chỉ xe do Đ điều khiển và nói muốn bán xe này. H3 gọi điện cho Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1988, ở xã S, nhưng T2 không nghe máy, nên cả 3 ngủ tại nhà H3. Đến 4 giờ sáng ngày 28/2/2024, không thấy T2 đến, nên Đ và Q chạy xe trộm được đến nhà T2. Đến nơi thấy nhà T2 đóng cửa, nên Đ để xe vừa trộm được bên hông nhà T2, rồi lên xe Q chở về. Khoảng 02 giờ sáng ngày 28/2/2024, K phát hiện bị mất xe, nên nhờ Tô Quốc H4, sinh năm 2004, ở thị trấn V cùng đi tìm xe. Khoảng 16 giờ cùng ngày H4 gặp và hỏi Đ, thì Đ thừa nhận có trộm xe của K. H4 gọi cho K cùng đi với Q, Đ đến nhà T2 lấy xe. Khi đi đến cây xăng T3 thuộc khu phố I, thị trấn V, thì H4 đổi ý và báo sự việc trên cho Công an thị trấn V xử lý theo quy định.

Theo Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ xác định xe biển số 86B8- 042.18, hiệu Honda Wave S có giá mua bán trên thị trường là 2.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: Đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu gì khác.

Theo Cáo trạng số 64/CT-VKSÐL-HS ngày 4/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Trần Q và Nguyễn Văn Đ ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, giữ nguyên quyết định truy tố và rút phần áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm đối với Nguyễn Văn Đ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đ và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q.

-Phạt bị cáo Trần Q từ 6 đến 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

-Phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 6 đến 09 tháng tù.

Bị cáo Q: Xin được giảm nhẹ, để về nuôi con nhỏ.

Bị cáo Đ: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ, để sớm về với gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không có lý do, nhưng việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án, nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của của bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội. Nội dung nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Với mục đích trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài, nên khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28/2/2024, các bị cáo Trần Q, sinh năm 2003 và Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2004, lợi dung đêm khuya, sơ hở của người quản lý tài sản, đã lén lút trộm xe mô tô hiệu Honda Wave S, có biển số 86B8- 04218, giá trị 2.500.000 đồng của ông Trần Minh K dựng ở trước sân nhà số B N, khu phố I, thị trấn V, huyện Đ. Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu, làm mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây lo lắng, bức xúc cho nhân dân. Trong vụ án này 02 bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn. Cụ thể: Bị cáo Q là người đề xướng việc trộm cắp, chủ động liên lạc để tìm nơi tiêu thụ xe trộm cắp, chở bị cáo Đ đến nơi lấy trộm xe; bị cáo Đ cũng tham gia phạm tôi tích cực, là người trực tiếp vào lấy xe và điều khiển xe trộm cắp cùng bị cáo Q đi tìm nơi tiêu thụ. Cả 02 bị cáo đều có nhân thân xấu: Bị cáo Q đã 02 bị xử phạt vi phạm hành chính; 01 lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường; bị cáo Đ đã bị kết án về hành vi trộm cắp, nhưng cũng không chịu tiến bộ.

[4] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Cụ thể: Sau khi phạm tội, các bị cáo khai báo thành khẩn, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho 02 bị cáo. Đối với bị cáo Q phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Q. Xét thấy Bản án số 42/2022/HS-ST ngày 20/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt bị cáo Đ 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là thuộc tội phạm ít nghiêm trọng. Thời điểm bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội theo Bản án số 42/2022/HS-ST ngày 20/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh là bị cáo chưa chưa 18 tuổi. Do đó căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự, xác định bị cáo Đ không có án tích. Vì vậy tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát không áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo Đ là đúng pháp luật.

[5]. Về quyết định hình phạt: Qua phần nhận định, đánh giá các tình tiết nêu trên, Hội đồng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, nhằm để giáo dục các bị cáo trở thành công dân sống lương thiện; mức hình phạt ở đầu khung của điều luật quy định và bằng nhau đối với 02 bị cáo là phù hợp.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu và không có ai yêu cầu bồi thường gì khác.

[7]. Mặc dù trong hồ sơ bị cáo Q khai là đã thỏa thuận bán cho Nguyễn Thanh T2 chiếc xe trộm của anh K với giá 1.000.000 đồng, nhưng ông T2 không thừa nhận, cũng không có cơ sở xác định là ông T2 đã mua chiếc trên, nên không xem xét trách nhiệm của ông T2 là phù hợp.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp và có căn cứ. Tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo Q được hưởng án treo là chưa đảm bảo, vì bị cáo Q có nhân thân xấu, đã 03 lần bị xử phạt và áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nhưng chưa được xóa tiền sự.

[9] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Kể từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm cho đến khi ban hành kết luận điều tra, Điều tra viên thực hiện hành vi tố tụng, ban hành các văn bản tố tụng đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và đúng trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự; thực hiện các hoạt động điều tra đúng luật định. Đối với Kiểm sát viên trong quá trình giám sát các hoạt động ở giai đoạn điều tra thực hiện đúng thẩm quyền. Trong giai đoạn truy tố Kiểm sát viên tiến hành hoạt động tố tụng đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố không có sự khiếu nại gì.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Quý . Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo Nguyễn Văn Đ;

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, 293 Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

1. Tuyên bố: Trần Q và Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Phạt: Bị cáo Trần Q 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Trần Q và Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/9/2024); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

4. Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

-VKSND tỉnh

-VKSND huyện Đức Linh

-CQTHAHS, Bộ phận Hồ sơ – Công an huyện

-TTLLTP-QG, Sở Tư pháp Bình thuận

-Chi cục THADS huyện Đức Linh

-Bị cáo, bị hại, người bào chữa (nếu có)

-Lưu hồ sơ vụ án + Văn Phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HS- ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 63/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q và Đ trộm cắp 01 xe mô tô trị giá 2.500.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger