Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ G

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/6/2024

Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
  2. Ông Nguyễn Thành Nhạn

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Luân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà: Ông Châu Hoa Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 226/2024/TLST-HN ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Trần Bảo T, sinh năm 1989 (có yêu cầu vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Bị đơn: Anh Hồ Văn T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Lê Trần Bảo T và anh Hồ Văn T1 chung sống vào năm 2010, có đăng ký kết hôn ngày 14/7/2010 tại UBND xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.

Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cải và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai.

Nay xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Trần Bảo T yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Hồ Lê Gia Đ, sinh ngày 15/10/2010 và Hồ Lê Gia P, sinh ngày 24/01/2021 hiện nay đang sống với chị Lê Trần Bảo T, chị Lê Trần Bảo T yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Anh Hồ Văn T1 vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, nên không ghi nhận được ý kiến của anh đối với yêu cầu ly hôn của chị Lê Trần Bảo T.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Lê Trần Bảo T ly hôn anh Hồ Văn T1.

Về con chung: Giao hai con chung là Hồ Lê Gia Đ và Hồ Lê Gia P cho chị Lê Trần Bảo T tiếp tục nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng cho con do chị T không yêu cầu; anh Hồ Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G.

Chị Lê Trần Bảo T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Hồ Văn T1 được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Chị Lê Trần Bảo T và anh Hồ Văn T1 chung sống vào năm 2010, có đăng ký kết hôn ngày 14/7/2010 tại UBND xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.

Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cải và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai là vi phạm Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, căn cứ vào biên bản làm việc ngày 20/5/2024 cho thấy, anh Hồ Văn T1 có địa chỉ cư trú tại: Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Xét thấy, hôn nhân của chị T và anh T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Trần Bảo T yêu cầu ly hôn là phù hợp, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị Lê Trần Bảo T ly hôn anh Hồ Văn T1.

[3] Về con chung: Theo nguyện vọng của Hồ Lê Gia Đ muốn sống với chị Lê Trần Bảo T, Hồ Lê Gia P, sinh ngày 24/01/2021 còn nhỏ hiện nay đang sống với chị Lê Trần Bảo T. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia và Gia đình và tình hình thực tế có căn cứ giao hai con cho chị Lê Trần Bảo T tiếp tục nuôi. Chị Lê Trần Bảo T không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết; anh Hồ Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Trần Bảo T không yêu cầu, anh Hồ Văn T1 vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH chị Lê Trần Bảo T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Điều 27 của nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Trần Bảo T ly hôn với anh Hồ Văn T1.

[3] Về con chung: Giao con chung là Hồ Lê Gia Đ và Hồ Lê Gia P cho chị Lê Trần Bảo T tiếp tục chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Lê Trần Bảo T không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết; anh Hồ Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Lê Trần Bảo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 300.000 đồng, chị Lê Trần Bảo T đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền: 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0008680 ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã G được chuyển thu án phí.

Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Giá Rai;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Liệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 63/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 63/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trân - Tốt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger